KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG LỆCH LẠC KHỚP CẮN BẰNG MÁY QUÉT TRONG MIỆNG MEDIT i700 VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ CHỈNH NHA CỦA SINH VIÊN RĂNG HÀM MẶT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM 2025

Trần Thị An Huy1,2, Vũ Phương Anh1, Đặng Tuấn Anh1,2
1 Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Sai khớp cắn là một bệnh lý phổ biến trong chuyên ngành răng hàm mặt, gây ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng và tinh thần của người bệnh. Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát tình trạng lệch lạc khớp cắn bằng máy quét trong miệng Medit i700 và nhu cầu điều trị chỉnh nha của sinh viên tại Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 75 sinh viên, gồm 38 nam (50,7 %) và 37 nữ (49,3 %), được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ. Tỷ lệ sai khớp cắn chung là 86,7 %, trong đó sai khớp cắn loại III chiếm tỷ lệ cao nhất với 40%; tiếp theo đó là loại I với 29,3 % và thấp nhất là loại II với 17,3 %. Cung răng hình oval là dạng hay gặp nhất chiếm 66,7 % ở hàm trên và 65,3 % ở hàm dưới. Theo IOTN, tỷ lệ sinh viên cần điều trị chỉnh nha dựa trên tình trạng sức khỏe răng (DHC) và thẩm mỹ răng (AC) là 85,3%. Nhu cầu điều trị vì lý do sức khỏe răng (84%) cao hơn đáng kể so với nhu cầu vì lý do thẩm mỹ (68%), cho thấy các vấn đề về chức năng và cấu trúc khớp cắn cần được quan tâm hàng đầu ở nhóm đối tượng này.


 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Alhammadi MS, Halboub E, Fayed MS, Labib A, El-Saaidi C. Global distribution of malocclusion traits: A systematic review. Dental Press J Orthod. 2018 Nov-Dec;23(6):40.e1-40.e10. doi: 10.1590/2177-6709.23.6.40.e1-10.onl.
2. Chan GXL, Tan ELY, Chew MT, Wong HC, Foong KWC, Yow M. Prevalence of Class I, II and III skeletal relationships and its association with dental anomalies in an ethnic Chinese orthodontic population. Proceedings of Singapore Healthcare. 2021;31. doi:10.1177/20101058211000779
3. Hardy, Daniel. (2012). Prevalence of angle class III malocclusion: A systematic review and meta-analysis. Open Journal of Epidemiology. 02. 75-82. 10.4236/ojepi.2012.24012.
4. Hoàng Lệ Giang. Khảo sát tình trạng lệch lạc khớp cắn và nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng của học sinh 12- 15 tuổi tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Luận văn Thạc sĩ y học, 2021. Trường đại học Y dược, Đại học Huế. https://doi.org/10.51298/vmj.v527i1B.5795
5. Brook, P. H., & Shaw, W. C. (1989). The development of an index of orthodontic treatment priority. European Journal of Orthodontics, 11(3), 309–320. https://doi.org/10.1093/oxfordjournals.ejo.a035999
6. Kihara H, Hatano K, Sun J, Kondo H. The application of intraoral scanners in orthodontic care for children and adolescents: A review. Appl Sci. 2024;14(8):3344. doi: 10.3390/app14083344.
7. Lưu Văn Tường và cộng sự (2024). Thực trạng lệch lạc khớp cắn và nhu cầu điều trị chỉnh nha của sinh viên năm 3 Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2023, Tạp Chí Học Việt Nam, 536 (1), 111-115. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v536i1.8661.
8. Đồng Thị Mai Hương (2012). Nghiên cứu tình trạng khớp cắn và nhu cầu điều trị chỉnh nha của sinh viên Trường Đại học Y Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ y khoa, Đại học Y Hà Nội.
9. Nguyễn Mỹ Huyền, Nguyễn Thị Tâm Duy (2025) Khảo sát tình trạng sai lệch khớp cắn của sinh viên trường Đại học Trà vinh, Tạp chí Y học Việt Nam, 548, 161–164. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v548i2.13401.
10. M. S. Abdullah và W. P. Rock (2001). Assessment of orthodontic treatment need in 5,112 Malaysian children using the IOTN and DAI indices, Community Dent. Health, 18, (4), 242–248.
11. L. Krooks, P. Pirttiniemi, G. Kanavakis, và R. Lähdesmäki (2016) Prevalence of malocclusion traits and orthodontic treatment in a Finnish adult population, Acta Odontol. Scand., vol 74(5), 362–367. doi: 10.3109/00016357.2016.1151547.
12. Hardy, D., Cubas, Y. and Orellana, M. (2012) Prevalence of angle class III malocclusion: A systematic review and meta-analysis. Open Journal of Epidemiology, 2, 75-82. doi: 10.4236/ojepi.2012.24012.
13. Hà Ngọc Chiều, Nguyễn Thùy Linh, Phạm Như Hải (2023). Hình dạng kích thước cung răng ở một nhóm sinh viên 18-24 tuổi tại Hà Nội. Tạp chí y học Việt Nam, 525 (4), 194–197. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v525i1B.5099.
14. Nojima K, McLaughlin RP, Isshiki Y, Sinclair PM. A comparative study of Caucasian and Japanese mandibular clinical arch forms. Angle Orthod. 2001 Jun;71(3):195-200. doi: 10.1043/0003-3219(2001)071<0195:ACSOCA>2.0.CO;2.
15. Phạm Thanh Hải và cộng sự (2022). Khảo sát tình trạng lệch lạc khớp cắn nhà nhu cầu điều trị chỉnh nha của sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2018. Tạp chí y học Việt Nam, 555(6), 99-104.
16. E. S. A. Alhaija, K. S. Al-Nimri, S. N. Al-Khateeb (2004). Orthodontic treatment need and demand in 12–14-year-old north Jordanian school children, Eur. J. Orthod., 26(3),261–263. doi: 10.1093/ejo/26.3.261.
17. J. Jenny và N. C. Cons (1996). Comparing and contrasting two orthodontic indices, the Index of Orthodontic Treatment Need and the Dental Aesthetic Index. Am. J. Orthod. Dentofacial Orthop., 110 (4), 410–416. doi: 10.1016/s0889-5406(96)70044-6.