ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG ĐỒNG KẾT QUẢ ĐIỆN GIẢI GIỮA HỆ THỐNG KHÍ MÁU ĐỘNG MẠCH VÀ HỆ THỐNG SINH HÓA TỰ ĐỘNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá sai số, tương quan và giới hạn đồng thuận giữa máu động mạch và máu tĩnh mạch trong xét nghiệm điện giải đồ.
Phương pháp: Thiết kế mô tả cắt ngang, tiến cứu, thực hiện tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ tháng 6-12 năm 2025. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân nhập viện có chỉ định xét nghiệm đồng thời khí máu động mạch và xét nghiệm sinh hóa hoặc miễn dịch sử dụng ống lithium heparin. Mỗi bệnh nhân được lấy 2 mẫu máu cùng lúc, phân tích bằng máy khí máu RapidPoint 500 (ISE trực tiếp) và máy sinh hóa AU5800 (ISE gián tiếp). Phân tích thống kê gồm kiểm định t-test ghép cặp, hệ số tương quan Pearson và biểu đồ Bland-Altman.
Kết quả: 347 cặp mẫu máu động mạch và tĩnh mạch được thu thập đồng thời và phân tích 3 thông số điện giải gồm Na⁺, K⁺ và Cl⁻. Giá trị trung bình của các chỉ số điện giải trong máu động mạch đều thấp hơn so với máu tĩnh mạch. Hiệu số trung bình (động mạch - tĩnh mạch) lần lượt là -3,11 mmol/L đối với Na⁺, -0,45 mmol/L đối với K⁺ và -2,58 mmol/L đối với Cl⁻; tất cả đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Hệ số tương quan Pearson cho thấy mối tương quan tuyến tính mạnh giữa 2 loại mẫu (Na⁺: r = 0,857; K⁺: r = 0,887; Cl⁻: r = 0,853; p < 0,001). Tuy nhiên, phân tích Bland-Altman ghi nhận giới hạn đồng thuận rộng, đặc biệt đối với Na⁺ và Cl⁻, K+ có độ lệch nhỏ hơn Na+ và Cl- nhưng vẫn không đạt chuẩn TEa cả về bias và LoA. Khi đối chiếu với giới hạn sai số toàn phần cho phép (TEa), tỷ lệ mẫu vượt ngưỡng chấp nhận lâm sàng ở mức cao (Na⁺: 37,8%; K⁺: 33,4%; Cl⁻: 82,7%), cho thấy mức độ không đồng thuận đáng kể giữa 2 phương pháp đo.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa giữa kết quả điện giải đo từ máu động mạch (ISE trực tiếp) và máu tĩnh mạch (ISE gián tiếp). Mức độ sai lệch vượt ngưỡng sai số toàn phần cho phép, đặc biệt đối với Na⁺ và Cl⁻, cho thấy 2 phương pháp không thể sử dụng thay thế cho nhau trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, kết quả K⁺ từ khí máu có thể được sử dụng để tham khảo trong trường hợp cấp cứu khi không thể lấy mẫu máu tĩnh mạch, nhưng cần xác nhận lại bằng xét nghiệm sinh hóa trong điều kiện thường quy.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Điện giải đồ, khí máu động mạch, ISE trực tiếp, ISE gián tiếp, máu tĩnh mạch.
Tài liệu tham khảo
[2] Bishop M.L, Fody E.P, Van Siclen C, March Mistler J. Clinical chemistry: principles, techniques, and correlations, 9th ed. Jones & Bartlett Learning, LLC, 2022.
[3] Tang S et al. Comparative analysis of hemoglobin, potassium, sodium, and glucose in arterial blood gas and venous blood of patients with COPD. Sci Rep, 2024, 14 (1): 5194. doi: 10.1038/s41598-024-55992-9.
[4] Devaki R.N et al. A retrospective database analysis to investigate if electrolytes in venous blood are equivalent to the levels in arterial blood. Indian Journal of Critical Care Medicine, 2024, 28 (5): 442-446. doi: 10.5005/jp-journals-10071-24702.
[5] Mikun M, Sivakumar K, Thangaraj P, Thamarai R. Comparison of sodium and potassium values in arterial and venous blood samples. MGM J Med Sci, 2024, 11 (3): 455-459. doi: 10.4103/mgmj.mgmj_180_24
[6] Ustundağ Y et al. Interchangeability of sodium and potassium result values of arterial blood gas with laboratory analyzer: narrative review. Indian J Crit Care Med, 2019, 23 (1): 35-42. doi: 10.5005/jp-journals-10071-23110.
[7] Prasad H et al. Correlation and agreement between arterial and venous blood gas analysis in patients with hypotension - an emergency department-based cross-sectional study. Int J Emerg Med, 2023, 16 (1): 18. doi: 10.1186/s12245-023-00486-0
[8] Westgard QC. 2025 CLIA acceptance limits for proficiency testing, November 19, 2025. https://westgard.com/clia-a-quality/quality-requirements/2024-clia-requirements.html
[9] Budd J.R et al. EP09-A3: Measurement procedure comparison and bias estimation using patient samples; approved guideline, 3rd ed. Pittsburgh, PA: Clinical and Laboratory Standards Institute, 2013.