Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá giá trị tiên lượng của phân loại Shih và COS ở chửa tại sẹo mổ lấy thai dưới 10 tuần.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 280 hồ sơ người bệnh điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (từ tháng 1-12 năm 2024). Thu thập các biến lâm sàng, siêu âm, β‑hCG và phương pháp xử trí; đánh giá giá trị tiên lượng bằng đường cong ROC.
Kết quả: Tuổi mẹ trung bình 35,4 ± 5,1 năm; tuổi thai 6,7 ± 1,2 tuần. Hai lần mổ lấy thai trước chiếm 54,6%; khoảng cách lần mổ gần nhất ≥ 4 năm chiếm 43,9%. Ra máu âm đạo là triệu chứng thường gặp (43,9%); 16% không triệu chứng. Hoạt động tim thai tăng theo tuổi thai (tuần 10: 100%). Tăng sinh mạch nhiều gặp 49,6% và tăng theo tuổi thai. Vị trí túi thai phổ biến về phía buồng tử cung (58,2%). Nồng độ β‑hCG > 10.000 IU/L gặp 78,9%. Hút thai là biện pháp ưu thế (69,3%); tỉ lệ thành công chung 95%, biến chứng thấp (chảy máu 1,1%; băng huyết 2,5%; máu tụ 3,6%). Phân loại Shih có AUROC = 0,64 (giá trị hạn chế); phân loại COS có AUROC = 0,54 (gần như không phân biệt).
Kết luận: Sàng lọc sớm bằng siêu âm, kết hợp hình thái túi thai, tăng sinh mạch và β‑hCG giúp cá thể hóa điều trị chửa tại sẹo mổ lấy thai. Hút thai dưới hướng dẫn siêu âm là lựa chọn an toàn, hiệu quả khi phát hiện sớm; các hệ phân loại hình thái đơn lẻ có giá trị tiên lượng hạn chế.