MỐI LIÊN QUAN GIỮA TRẢI NGHIỆM BẤT LỢI THỜI THƠ ẤU VÀ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG CÓ LỢI CHO SỨC KHỎE CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả hành vi không có lợi cho sức khỏe và tìm hiểu mối liên quan giữa trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu và một số yếu tố liên quan khác với hành vi không có lợi cho sức khỏe của học sinh một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Huế.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 1112 học sinh tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Huế năm 2025. Hành vi không có lợi cho sức khỏe được đánh giá dựa trên một số câu hỏi của bộ công cụ GSHS. Số liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền. Phân tích hồi quy logistics đa biến để xác định yếu tố liên quan đến hành vi không có lợi cho sức khỏe với p < 0,05.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ học sinh có hành vi không có lợi cho sức khỏe là 29,5%, trong đó có 6,5% sử dụng thuốc lá truyền thống, 7,6% sử dụng thuốc lá điện tử, 27,0% sử dụng rượu/bia và 0,3% từng sử dụng các chất kích thích. Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến hành vi không có lợi cho sức khỏe ở học sinh trung học phổ thông gồm: vị trí trường học, người sống cùng, tình trạng hôn nhân của ba mẹ, mức chi tiêu trung bình hằng tháng, tiếp xúc với thuốc lá điện tử trong môi trường học đường, tiếp xúc với rượu bia trong môi trường học đường, tiếp xúc với rượu bia trong gia đình/người thân, tiếp xúc với chất kích thích trong môi trường học đường và trải nghiệm bất lợi thời ấu (p < 0,05).
Kết luận: Tỷ lệ học sinh có hành vi không có lợi cho sức khỏe khá cao. Vì vậy, cần tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trong trường học, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đẩy mạnh tư vấn hỗ trợ kiên thức về hậu quả của các hành vi không có lợi cho học sinh thông qua các kênh truyền thống, đồng thời khuyến khích các em nâng cao nhận thức, chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ để dự phòng các hành vi không có lợi cho sức khỏe ở học sinh.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Trải nghiệm bất lợi thời thơ ấu, hành vi không có lợi cho sức khỏe, học sinh trung học phổ thông.
Tài liệu tham khảo
[2] Xu Z et al. Association of positive and adverse childhood experiences with risky behaviours and mental health indicators among Chinese university students in Hong Kong: an exploratory study. Eur J Psychotraumatol, 2022, 13 (1): 2065429.
[3] Nguyễn Bá Hà và cộng sự. Một số hành vi sức khỏe của học sinh 13-17 tuổi tại quận Hoàng Mai và huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, tập 529, số 1, tr. 317 -321.
[4] Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cộng sự. Thực trạng hành vi sử dụng rượu bia của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội, năm 2019. Tạp chí Y tế Công cộng, 2020, số 52, tr. 50-58.
[5] Trần Phạm Thanh Ngân và cộng sự. Thực trạng sử dụng thuốc lá điện tử và các mối liên quan ở học sinh tại Trường Trung học phổ thông Huỳnh Thúc Kháng tỉnh Tây Ninh năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, tập 544, số 3, tr. 296-301.
[6] World Health Organization. Global School-Based Student Health Survey 2013. URL: https://extranet.who.int/ncdsmicrodata/index.php/catalog/482/related-materials. 2019
[7] World Health Organization. Adverse Childhood Experiences International Questionnaire (ACE-IQ). URL: https://www.who.int/publications/m/item/adverse-childhood-experiences-international-questionnaire-(ace-iq). 2020
[8] Trần Đại Tri Hãn và cộng sự. Tác động của bạo lực do bạn tình gây ra trong thai kỳ đến sức khỏe tâm thần của bà mẹ và sự phát triển của trẻ: Nghiên cứu đoàn hệ sinh đẻ tại miền Trung Việt Nam. Osong Public Health Res Perspect, 2025, tập 16, số 5, tr. 453-464.
[9] Đào Lan Hương và cộng sự. Hài lòng với cuộc sống của vị thành niên: Ảnh hưởng của yếu tố nào từ phía gia đình. Hội thảo quốc tế về sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam lần thứ 5: Hiểu biết về sức khỏe tâm thần và cộng đồng, 2019, tr. 185-197.
[10] Nguyễn Thanh Hải và cộng sự. Thực trạng sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử và một số yếu tố liên quan đến học sinh khối 10 và khối 11 tại Hải Phòng năm 2022. Tạp chí Y học Dự phòng, 2024, tập 34, số 1 phụ bản, tr. 80-89.
[11] Gentzke A.S et al. Tobacco product use and associated factors among middle and high school students - National youth tobacco survey, United States, 2021. MMWR Surveill Summ, 2022, 71 (5): 1-29.
[12] Nguyễn Minh Tâm, Jean-Pascal Assailly. Tình hình sử dụng rượu bia và hành vi lái xe sau khi sử dụng rượu bia ở học sinh trung học phổ thông tại tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bình Thuận. Tạp chí Y Dược học, 2016, tập 6, số 4, tr. 92-98.
[13] Hughes K et al. Adverse childhood experiences, childhood relationships and associated substance use and mental health in young Europeans. Eur J Public Health, 2019, 29 (4): 741-7.
[14] Sebalo I et al. The associations of adverse childhood experiences (ACEs) with substance use in young adults: A systematic review. Subst Abuse, 2023, 17: 11782218231193914.
[15] Phạm Minh Khuê và cộng sự. Thực trạng sử dụng thuốc lá, thuốc lá điện tử và một số yếu tố liên quan ở học sinh Trường Trung học phổ thông Hải An, thành phố Hải Phòng năm 2023. Tạp chí Y học dự phòng, 2024, tập 34, số 1 phụ bản, tr. 90-8.