KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ: NGHIÊN CỨU TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH – CƠ SỞ 3 VÀ BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Khảo sát các phương pháp Y học cổ truyền trong điều trị rối loạn giấc ngủ
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 902 hồ sơ bệnh án (HSBA) được chẩn đoán rối loạn giấc ngủ và có ít nhất sử dụng phương pháp YHCT hoặc YHHĐ tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 3 và Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/01/2024 đến 31/12/2024.
Kết quả: Nghiên cứu trên 902 hồ sơ cho thấy điều trị chủ yếu bằng YHCT (96,6%), không khác biệt theo tuổi. Thành phẩm YHCT được sử dụng nhiều nhất (65,3%) và tăng theo tuổi, thuốc thang chiếm 44,3%, phối hợp hai dạng chiếm 13,0%. Phương pháp không dùng thuốc chiếm 24,8% (châm cứu 20,2%, xoa bóp bấm huyệt 11,0%) và khác biệt giữa các nhóm tuổi. Tỷ lệ phối hợp thuốc YHCT–YHHĐ thấp (2,0%). Nhóm dưỡng tâm an thần chiếm ưu thế (43,6%), trong khi nhóm trọng trấn an thần thấp (3,2%). Toan táo nhân và Viễn chí được dùng nhiều nhất, tiếp theo là Phục linh và Phục thần. Phân tích mạng lưới cho thấy các vị thuốc tập trung thành hai cụm chính, trong đó nhóm dưỡng tâm an thần (Phục thần, Toan táo nhân, Viễn chí, Phục linh) đóng vai trò trung tâm với mức độ liên kết cao, trong khi các vị khác chủ yếu đóng vai trò bổ trợ
Kết luận: Kết quả nghiên cứu xác định một mô hình điều trị rối loạn giấc ngủ ưu thế dựa trên thuốc YHCT, trong đó thành phẩm giữ vai trò trung tâm và có sự phân hóa rõ rệt về mức độ sử dụng giữa các chế phẩm. Cấu trúc phối hợp vị thuốc cho thấy sự tập trung quanh một số thành phần chủ đạo, hình thành các cụm liên kết đặc trưng. Ngược lại, các phương pháp không dùng thuốc và phối hợp YHCT–YHHĐ chỉ chiếm tỷ lệ hạn chế trong thực hành.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
rối loạn giấc ngủ, Y học cổ truyền, Y học hiện đại,….
Tài liệu tham khảo
[2] Liú Mèng Jiā. Clinical Observation on the Treatment of Insomnia of Heart and Spleen Deficiency Type by Proximal Needling Ashi Point and Guipi Decoction. 2020. doi: 10.27127/d.cnki.ghlzu.2020.000124. doi: 10.27127/d.cnki.ghlzu.2020.000124.
[3] Nguyễn Thị Huyền Trân, Trần Quang Tú, Tô Lý Cường. Phân tích các mối liên quan đến chỉ định kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại trong điều trị rối loạn giấc ngủ tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 3 và Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp Chí Y Học Cộng Đồng. 2025; ;66(Số chuyên đề 11):180–185. doi: https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD11.2827
[4] Trịnh Thị Diệu Thường, Nguyễn Văn Đàn. Bệnh học và điều trị Thần kinh kết hợp Đông Tây y. Nhà xuất bản Y học; 2021.
[5] Lê Thị Lan Hương, Bùi Thị Hoàng An, Nguyễn Văn Đàn. Tình hình sử dụng các phương pháp điều trị Y học cổ truyền trên người bệnh mất ngủ tại Bệnh viện Thống nhất năm 2021. Tạp Chí Học Việt Nam. 2023;530 (Số chuyên đề tháng 9):316-322. https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/7427/6571
[6] Yaqi HE, Yinhe D, Jiahao MO, et al. Medication Rules of Traditional Chinese Medicine Patent Compound Prescriptions in Treating Insomnia in 2009-2019. Chin J Mod Appl Pharm. 2020;37(16):1926–1932. doi: 10.13748/j.cnki.issn1007-7693.2020.16.002
[7] Yang K, Zhang R, He L, et al. Multistage analysis method for detection of effective herb prescription from clinical data. Front Med. 2018;12(2):206–217. doi: 10.1007/s11684-017-0525-8
[8] Mo Y, Hu L, Shen X, et al. Utilization, user evaluation, and associated factors of Traditional Chinese Medicine techniques for insomnia symptoms among Chinese community-dwelling older adults: a cross-sectional study. Front Public Health. 13:1746822. doi: 10.3389/fpubh.2025.1746822
[9] Rui-Ming S, Lei L, Hui-li W. Analysis of application value of integrated Chinese and western medicine in patients with stroke and sleep disorders. J Med Forum [Internet]. 2024;(17). doi: 10.20159/j.cnki.jmf.2024.17.009.doi: 10.20159/j.cnki.jmf.2024.17.009