ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, PHIM CẮT LỚP VI TÍNH HÌNH NÓN CỦA NGƯỜI BỆNH GÃY XƯƠNG HÀM DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2024–2026

Phạm Anh Minh1, Đặng Triệu Hùng2, Nguyễn Huệ Phương3, Phạm Hoàng Tuấn4
1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Nha khoa Phạm Gia – Hải Phòng
4 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CT Conebeam của người bệnh gãy xương hàm dưới tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội giai đoạn 2024–2026.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 251 bệnh nhân gãy xương hàm dưới được điều trị phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội từ tháng 6/2024 đến tháng 6/2026. Các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CT Conebeam được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phim chụp trước phẫu thuật.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 28,3 ± 13,5 tuổi; nam giới chiếm 71,71%. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu gây gãy xương hàm dưới (78,09%). Các biểu hiện lâm sàng thường gặp gồm đau vùng gãy (94,82%), sai khớp cắn (86,85%) và hạn chế há miệng (82,07%). Trên phim CT Conebeam, vùng cằm là vị trí gãy thường gặp nhất (59,76%), tiếp theo là lồi cầu (52,59%). Gãy từ hai ổ trở lên chiếm đa số trường hợp. Các tổn thương phối hợp vùng hàm mặt thường gặp là gãy xương hàm trên và gãy gò má cung tiếp.


Kết luận: Gãy xương hàm dưới chủ yếu gặp ở nam giới trẻ tuổi do tai nạn giao thông. CT Conebeam có giá trị quan trọng trong đánh giá đặc điểm tổn thương và hỗ trợ lập kế hoạch điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Hoàng Tuấn. Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học gãy xương hàm dưới phối hợp tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2018;467(2):85-90.
2. Trương Mạnh Dũng, Trần Văn Trường. Tình hình chấn thương hàm mặt điều trị tại Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội trong 10 năm. Tạp chí Y học Thực hành. 2000;389:45-49.
3. Ellis E III, Moos KF, El-Attar A. Ten years of mandibular fractures: an analysis of 2,137 cases. Oral Surg Oral Med Oral Pathol. 1985;59(2):120-129. DOI: 10.1016/0030-4220(85)90002-7.
4. Gutta R, Tracy K, Johnson C, James LE, Krishnan DG, Marciani RD. Outcomes of mandible fracture treatment at an academic tertiary hospital: a 5-year analysis. J Oral Maxillofac Surg. 2014;72(3):550-558. DOI: 10.1016/j.joms.2013.09.005.
5. Hsieh TY, Funamura JL, Dedhia R, Durbin-Johnson B, Dunbar C, Tollefson TT. Risk factors associated with complications after treatment of mandible fractures. JAMA Facial Plast Surg. 2019;21(3):213-220. DOI: 10.1001/jamafacial.2018.1800.
6. Kim MY, Kim CH, Han SJ, Lee JH. A comparison of three treatment methods for fractures of the mandibular angle. Int J Oral Maxillofac Surg. 2016;45(7):878-883. DOI: 10.1016/j.ijom.2016.02.001.
7. Joshi UM, Ramdurg S, Saikar S, Patil S, Shah K. Brain injuries and facial fractures: a prospective study of incidence of head injury associated with maxillofacial trauma. J Maxillofac Oral Surg. 2018;17(4):531-537. DOI: 10.1007/s12663-017-1064-3.
8. Mukherjee S, Abhinav K, Revington P. A review of cervical spine injury associated with maxillofacial trauma at a UK tertiary referral centre. Ann R Coll Surg Engl. 2015;97(1):66-72. DOI: 10.1308/003588414X14055925058772.
9. Lee KH. Epidemiology of mandibular fractures in a tertiary trauma centre. Emerg Med J. 2008;25(9):565-568. DOI: 10.1136/emj.2007.052142.
10. Brasileiro BF, Passeri LA. Epidemiological analysis of maxillofacial fractures in Brazil: a 5-year prospective study. Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod. 2006;102(1):28-34. DOI: 10.1016/j.tripleo.2005.07.023.