KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY TRÊN LỒI CẦU XƯƠNG CÁNH TAY TRẺ EM BẰNG NẮN KÍN, XUYÊN KIM QUA DA CÓ SỬ DỤNG MÀN HÌNH TĂNG SÁNG

Nguyễn Huy Hoàng1, Phạm Ngọc Tuấn2, Trịnh Đình Thanh3, Nguyễn Minh Tuấn1
1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
2 Bệnh viện Đa khoa Hoà Bình- Phú Thọ
3 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín trên lồi cầu xương cánh tay bằng nắn kín và xuyên kim qua da dưới hướng dẫn màn hình tăng sáng.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 115 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh (01/2024–12/2025). Thu thập các đặc điểm dịch tễ, phân loại Gartland, phương pháp cố định, thời gian liền xương, biến chứng và kết quả chức năng theo Flynn.


Kết quả: Nhóm tuổi 6–10 chiếm 49,6%, nam 67,8%. Nguyên nhân chủ yếu là ngã chống tay (39,1%). Gartland type III chiếm 53,0%, type II 38,3%, type I 8,7%. Xuyên kim chéo  5%. Thời gian phẫu thuật trung bình 30 ± 15,9 phút, liền xương 8 ± 8,5 tuần. Tỷ lệ liền xương tốt đạt 84,3%, không có không liền xương. Theo Flynn, kết quả tốt và rất tốt đạt 88,7%. Biến chứng gồm hạn chế vận động (10,4%) và nhiễm trùng chân kim (4,3%), không ghi nhận tổn thương thần kinh.


Kết luận: Nắn kín và xuyên kim qua da dưới màn hình tăng sáng là phương pháp hiệu quả, cho tỷ lệ liền xương cao, phục hồi chức năng tốt và ít biến chứng.


 


Chưa phân tích lựa chọn cấu hình kim.
Bài nêu xuyên kim chéo 56,5%, xuyên kim song song 43,5%, nhưng không phân tích theo Gartland, độ vững ổ gãy hoặc biến chứng. Xuyên kim chéo có nguy cơ tổn thương thần kinh trụ cao hơn, cần nêu có biện pháp bảo vệ thần kinh hay không.


 


Trong nghiên cứu của chúng tôi, xuyên kim chéo được sử dụng ở 56,5% trường hợp, trong khi xuyên kim song song từ phía ngoài được sử dụng ở 43,5% trường hợp. Việc lựa chọn cấu hình kim chủ yếu dựa trên mức độ mất vững của ổ gãy sau nắn kín dưới màn hình tăng sáng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Đối với các trường hợp Gartland III hoặc ổ gãy còn xu hướng xoay, xuyên kim chéo thường được ưu tiên nhằm tăng độ vững cố định. Trong khi đó, các trường hợp đạt nắn chỉnh tốt và ổ gãy tương đối vững có thể được cố định bằng các kim song song từ phía ngoài.


 


Do mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá kết quả chung của phương pháp nắn kín và xuyên kim qua da nên chúng tôi chưa thực hiện phân tích dưới nhóm giữa các cấu hình kim cố định. Đây là một hạn chế của nghiên cứu và sẽ là hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá mối liên quan giữa cấu hình kim, độ vững ổ gãy, biến chứng và kết quả chức năng.


 


Đối với nguy cơ tổn thương thần kinh trụ khi sử dụng xuyên kim chéo, tại đơn vị chúng tôi kim phía trong chỉ được đặt sau khi đã nắn chỉnh ổ gãy, khuỷu không gấp quá mức và xác định rõ vị trí mỏm trên lồi cầu trong. Trong một số trường hợp, đầu kim được đặt qua một đường rạch da nhỏ nhằm hạn chế nguy cơ tổn thương thần kinh trụ. Trong nghiên cứu hiện tại, chúng tôi không ghi nhận trường hợp tổn thương thần kinh trụ nào sau phẫu thuật.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Otsuka NY, Kasser JR. Supracondylar fractures of the humerus in children. J Am Acad Orthop Surg. 1997;5(1):19–26. DOI: 10.5435/00124635-199701000-00002
2. Cheng JC, Shen WY. Limb fracture pattern in different pediatric age groups: a study of 3,350 children. J Orthop Trauma. 1993;7(1):15–22. DOI: 10.1097/00005131-199302000-00004
3. Skaggs DL, Cluck MW, Mostofi A, Flynn JM, Kay RM. Lateral-entry pin fixation in the management of supracondylar fractures in children. J Bone Joint Surg Am. 2004;86(4):702–707. DOI: 10.2106/00004623-200404000-00010
4. Wilkins KE. The operative management of supracondylar fractures. Orthop Clin North Am. 1990;21(2):269–289. DOI: 10.1016/S0030-5898(20)31595-7
5. Kocher MS, Kasser JR, Waters PM, et al. Lateral entry compared with medial and lateral entry pin fixation for displaced supracondylar fractures in children. J Bone Joint Surg Am. 2007;89(4):706–712. DOI: 10.2106/JBJS.F.01312
6. Zionts LE, McKellop HA, Hathaway R. Torsional strength of pin configurations used to fix supracondylar fractures of the humerus in children. J Bone Joint Surg Am. 1994;76(2):253–256. DOI: 10.2106/00004623-199402000-00013
7. Flynn JC, Matthews JG, Benoit RL. Blind pinning of displaced supracondylar fractures of the humerus in children. J Bone Joint Surg Am. 1974;56(2):263–272. DOI: 10.2106/00004623-197456020-00002
8. Pavone V, Riccioli M, Vescio A, Lucenti L, Sessa G, Testa G. Supracondylar humerus fractures in children: management and treatment. J Orthop Traumatol. 2016;17(3):187–196. DOI: 10.1007/s10195-016-0412-7
9. Zhao JG, Wang J, Zhang P. Lateral versus crossed pin fixation for pediatric supracondylar humeral fractures: a systematic review and meta-analysis. Medicine (Baltimore). 2018;97(36):e11652. DOI: 10.1097/MD.0000000000011652
10. Brauer CA, Lee BM, Bae DS, Waters PM, Kocher MS. A systematic review of medial and lateral entry pinning versus lateral entry pinning for supracondylar fractures of the humerus. J Bone Joint Surg Am. 2007;89(4):706–712. DOI: 10.2106/JBJS.F.00391