ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG NHÓM RĂNG SAU CÓ CHỈ ĐỊNH THỰC HIỆN INLAY/ONLAY BẰNG VẬT LIỆU NHỰA IN 3D TERA HARZ TC-80DP TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Bùi Ngọc Hoa1, Phạm Việt Mỹ1, Trầm Kim Định1, Lâm Huỳnh Phước Minh1, Trần Hùng Lâm2
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Trường Đại học Văn Lang

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Phục hồi răng sau có tổn thương xoang loại II là một thách thức trong nha khoa phục hồi, các dữ liệu về đặc điểm lâm sàng của nhóm răng sau có chỉ định phục hồi inlay/onlay bằng vật liệu nhựa in 3D Tera Harz TC-80DP vẫn còn hạn chế.


Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng nhóm răng sau có chỉ định thực hiện inlay/onlay bằng vật liệu nhựa in 3D Tera Harz TC-80DP tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 48 răng có xoang sâu loại II tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.


Kết quả: Lý do đến khám chủ yếu là khám định kỳ (27,1%), tiếp theo là đau răng (25%) và sâu răng (22,9%). Hầu hết bệnh nhân chải răng ≥2 lần/ngày (87,5%), sự khác biệt giữa các nhóm nghề nghiệp có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Xoang II mức độ 2 chiếm ưu thế (60,4%), phần lớn tổn thương ở vị trí gần–nhai (77,1%). Răng có xoang II mức độ 3 có tỷ lệ quá cảm ngà trước điều trị cao hơn mức độ 2 (47,4% so với 20,7%), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05).


Kết luận: Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, răng được phục hồi bằng inlay/onlay nhựa in 3D Tera Harz TC-80DP chủ yếu là xoang sâu loại II mức độ 2. Xoang II mức độ 3 có xu hướng gây nhạy cảm ngà nhiều hơn trước điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Trầm, K. Đ., Lâm, N. T., Nguyễn, C. T., Nguyễn, H. G., Nguyễn, H. H. T., & Trương, N. K. (2023). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng răng mất chất xoang loại II trên nhóm răng sau có chỉ định phục hồi bằng inlay/onlay sứ IPS E.MAX PRESS tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ 2022-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 65, 184-190. https://doi.org/10.58490/ctump.2023i65.1991
[2] Nguyễn, T. K. N., Nguyễn, Đức M., & Trần, T. P. Đan. (2024). Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị phục hồi tổn thương răng cối lớn bằng inlay sứ lai có ứng dụng kỹ thuật số trong lấy dấu và chế tác tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành Phố Hồ Chí Minh. Tạp Chí Y học Việt Nam, 543(1). https://doi.org/10.51298/vmj.v543i1.11361
[3] Balestra, D., Lowther, M., Goracci, C., Mandurino, M., Cortili, S., Paolone, G., Louca, C., & Vichi, A. (2024). 3D Printed Materials for Permanent Restorations in Indirect Restorative and Prosthetic Dentistry: A Critical Review of the Literature. Materials (Basel, Switzerland), 17(6), 1380. https://doi.org/10.3390/ma17061380
[4] Song, J. S., Shin, Y., Kim, J. H., Lee, K. E., Lee, J., Min, J., Kim, H., & Song, J. S. (2025). Mechanical performance of 3D-printed and milled resins for pediatric provisional restorations. Scientific reports, 15(1), 38927. https://doi.org/10.1038/s41598-025-22841-2
[5] Çakmak, G., Steigmeier, D., Güven, M. E., Yilmaz, D., Schimmel, M., Yoon, H. I., & Yilmaz, B. (2024). Fabrication Trueness, Intaglio Surface Adaptation, and Marginal Integrity of Resin-Based Onlay Restorations Fabricated by Additive and Subtractive Manufacturing. The International journal of prosthodontics, 37(7), 99–107. https://doi.org/10.11607/ijp.8802
[6] Mount, G. J. (2009). Minimal intervention dentistry: cavity classification & preparation. Journal of minimum intervention in dentistry, 2(3), 150-162. Doi:10.2298/SGS0502120M
[7] Mount, G. J., & Hume, W. R. (1998). A new cavity classification. Australian dental journal, 43(3), 153–159. https://doi.org/10.1111/j.1834-7819.1998.tb00156.x
[8] Bùi, T. H. H., Lê, H. M. N., & Lê , N. L. (2023). Đặc điểm lâm sàng, X-quang tổn thương thân răng cối nhỏ được chỉ định phục hồi bằng inlay sứ tại Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ 2019-2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 54, 91-98. https://doi.org/10.58490/ctump.2022i54.363
[9] Chu Thị Quỳnh, H. (2025). Đánh giá kết quả phục hồi thân răng hàm mất nhiều tổ chức cứng bằng inlay/onlay vật liệu sứ EMAX PRESS. Tạp Chí Y học Việt Nam, 551(2). https://doi.org/10.51298/vmj.v551i2.14610