NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẤM DỨT THAI KỲ Ở NHỮNG TRƯỜNG HỢP DÂY RỐN QUẤN CỔ

Lưu Hiến Minh1, Nguyễn Văn Lâm2, Trần Thị Trúc Vân3
1 Phòng khám Đa khoa Việt Anh
2 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
3 Bệnh viện Quân y 121

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp chấm dứt thai kỳ ở những trường hợp dây rốn quấn cổ.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả. Chọn tất cả những thai phụ thỏa mãn điều kiện chọn mẫu vào nhóm nghiên cứu.


Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 27,75 ± 6,78 tuổi, dao động từ 18-44 tuổi. Phần lớn sống ở thành thị với 72,37%, đối tượng sống ở nông thôn là 27,63%. Có 42,5% trường hợp có dây rốn quấn cổ. Dây rốn quấn cổ 1 vòng có là 82,3%, dây rốn quấn cổ 2 vòng là 7,5%. Chiều dài trung bình của dây rốn trong nghiên cứu là 50,40 ± 3,53 cm, ngắn nhất 40 cm và dài nhất 58 cm. Monitoring sản khoa nhóm 1 chiếm tỷ lệ cao (95%). Tỷ lệ mổ lấy thai trong nhóm nghiên cứu cao hơn sinh ngả âm đạo (51,25% so với 48,75%). Đối với dây rốn quấn cổ 1 vòng, tỷ lệ sinh ngả âm đạo cao hơn mổ lấy thai. Đối với dây rốn quấn cổ 2 vòng thì tỷ lệ mổ lấy thai cao hơn.


Kết luận: Tần suất dây rốn quấn cổ khá cao trong nhóm nghiên cứu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Vasa R, Dimitrov R, Patel S. Nuchal cord at delivery and perinatal outcomes: single-center retrospective study, with emphasis on fetal acid-base balance. Pediatr Neonatol, 2018, 59 (5): 439-447. doi: 10.1016/j.pedneo.2018.03.002
[2] Sherer D.M, Ward K, Bennett M, Dalloul M. Current perspectives of prenatal sonographic diagnosis and clinical management challenges of nuchal cord(s). Int J Womens Health, 2020 (12): 613-631. doi: 10.2147/IJWH.S211124
[3] Tariq S, Riffat S, Amin S et al. Incidence of nuchal cord and its effect on mode of delivery and fetal outcome. Prof Med J, 2025, 32 (9): 1142-1148. doi: 10.29309/TPMJ/2025.32.09.9110
[4] Majeed B, Arya J, Gupta T. Incidence of nuchal cord and its impact on labor progression and neonatal outcomes: a prospective observational study. Int J Life Sci Biotechnol Pharma Res, 2025, 14 (2): 19-23. doi: 10.69605/ijlbpr_14.2.2025.5
[5] Awowole I.O, Badejoko O.O, Adeniyi O.A et al. Cord length, umbilical artery lactate concentration and perinatal outcomes of babies with nuchal cord at Ile-Ife, Nigeria. Ann Health Res, 2023, 9 (1): 60-68. https://www.ajol.info/index.php/ahr/article/view/244559
[6] Nguyễn Thị Cẩm Nhung, Trịnh Trần Xuân Vinh, Nguyễn Thị Yến và cộng sự. Biểu đồ tim thai loại II trong chuyển dạ: kết cục thai kỳ và mô hình dự đoán trẻ ngạt. Tạp chí Phụ Sản, 2023, 21 (2):78-83. doi: 10.46755/vjog.2023.2.1603
[7] Nguyễn Ngọc Rạng, Trương Kim Thuyên. Dây rốn quấn cổ lúc sinh và kết cục trên thai nhi tại Bệnh viện Sản Nhi An Giang. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 498 (2): 22-25. doi: 10.51298/vmj.v498i2.163
[8] Silva G.V, Gontijo C.T, Lunguinho L et al. Perinatal outcomes related to the presence of a nuchal cord during delivery: a retrospective cohort study. Diagnostics (Basel), 2025, 15 (10): 1197. doi: 10.3390/diagnostics15101197
[9] Xiao Y.J, Chen Y.H, Zheng H.Y et al. Standardized ultrasound diagnosis of nuchal cord. Int J Gen Med, 2021, 14: 5825-5834. doi: 10.2147/IJGM.S322713
[10] Sugimoto M, Nakao M, Nii M et al. Intrapartum fetal heart rate pattern evolution associated with septuple nuchal cord loops: a case report. Case Rep Obstet Gynecol, 2025: 9925453. doi: 10.1155/crog/9925453
[11] Meena P, Bhojwani P, Verma G.S. Effects of nuchal cord on fetomaternal outcome: an obstetrician challenge. Int J Clin Obstet Gynaecol, 2018, 2 (5): 19-23. https://www.gynaecologyjournal.com/articles/124/2-5-7-506.pdf