MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VỚI ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ TYROSINE KINASE Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ ĐỘT BIẾN EGFR TẠI BỆNH VIỆN 19-8

Nguyễn Thị Minh Hải1, Nguyễn Hải Đăng2, Hoàng Thị Ngọc Trâm3
1 Bệnh viện 19-8
2 Khoa Y Dược, Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh
3 Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá mối liên quan của các đặc điểm này với đáp ứng điều trị bằng thuốc ức chế Tyrosine Kinase (TKI) ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến gen EGFR tại Bệnh viện 19-8.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp, mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu, không có nhóm chứng trên 30 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến gen EGFR được điều trị bước một bằng thuốc TKI tại Bệnh viện 19-8 từ tháng 1/2022 đến tháng 11/2024.


Kết quả: Tuổi trung bình là 62,2 ± 13,3; tỷ lệ nam/nữ là 2/1. Số bệnh nhân có chỉ số toàn trạng theo ECOG = 0-1 là cao nhất (96,6%), không có trường hợp nào ECOG = 3. Thường gặp di căn 1 vị trí/1 cơ quan với tỷ lệ 46,7%. Đột biến gen EGFR trên exon 19 hay gặp hơn (63,3%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ đáp ứng điều trị với các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và loại TKI (p > 0,05), mặc dù Osimertinib được ghi nhận có đáp ứng tốt nhất trong nghiên cứu này với tỷ lệ 100% và đột biến gen EGFR trên exon 19 đáp ứng tốt hơn so với đột biến trên exon 21 với tỉ lệ lần lượt là 84,2% và 54,5%.


Kết luận: Hiện tại, nghiên cứu chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng với đáp ứng điều trị TKI ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến gen EGFR.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bray F et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 2024, 74 (3): 229-63. doi: 10.3322/caac.21834
[2] Hsu W.H et al. Overview of current systemic management of EGFR-mutant NSCLC. Ann Oncol, 2018, 29 (suppl_1): i3-i9. doi: 10.1093/annonc/mdx702
[3] Shi Y et al. A prospective, molecular epidemiology study of EGFR mutations in Asian patients with advanced non-small-cell lung cancer of adenocarcinoma histology (PIONEER). J Thorac Oncol, 2014, 9 (2): 154-62. doi: 10.1097/JTO.0000000000000033
[4] Majeed U et al. Targeted therapy in advanced non-small cell lung cancer: current advances and future trends. J Hematol Oncol, 2021, 14 (1):108. doi: 10.1186/s13045-021-01121-2
[5] Phạm Văn Luận và cộng sự. So sánh hiệu quả điều trị bước một của Afatinib và Gefitinib ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa có đột biến gen EGFR thường gặp. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2024, 19 (5): 55-63. doi: 10.52389/ydls.v19i5.2265
[6] Zhou C et al. Erlotinib versus chemotherapy as first-line treatment for patients with advanced EGFR mutation-positive non-small-cell lung cancer (OPTIMAL, CTONG-0802): a multicentre, open-label, randomised, phase 3 study. Lancet Oncol, 2011, 12 (8): 735-42. doi: 10.1016/S1470-2045(11)70184-X
[7] Rosell R et al. Erlotinib versus standard chemotherapy as first-line treatment for European patients with advanced EGFR mutation-positive non-small-cell lung cancer (EURTAC): a multicentre, open-label, randomised phase 3 trial. Lancet Oncol, 2012, 13 (3): 239-46. doi: 10.1016/S1470-2045(11)70393-X
[8] Soria J.C et al. Osimertinib in untreated EGFR-mutated advanced non-small-cell lung cancer. N Engl J Med, 2018, 378 (2): 113-25. doi: 10.1056/NEJMoa1713137
[9] Nghiêm Trần Vượng. Đánh giá kết quả Erlotinib trong điều trị bước một ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[10] Paz-Ares L et al. Afatinib versus Gefitinib in patients with EGFR mutation-positive advanced non-small-cell lung cancer: overall survival data from the phase IIb LUX-Lung 7 trial. Ann Oncol, 2017, 28 (2): 270-7. doi: 10.1093/annonc/mdw611.