KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TÌNH TRẠNG SA SÚT TRÍ TUỆ TRÊN BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ NÃO
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến tình trạng sa sút trí tuệ trên bệnh nhân sau đột quỵ não tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Cần Thơ năm 2024.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 115 bệnh nhân sau đột quỵ não >=3 tháng được điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Cần Thơ từ tháng 6/2024 - 10/2024.
Kết quả: Độ tuổi từ 60-80 chiếm đa phần trong nghiên cứu này (57,4%), trong đó tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới (53,9% so với 46,1%). Bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc đột quỵ có tình trạng sa sút trí tuệ cao hơn so với nhóm không có yếu tố tiền sử gia đình (71,4% so với 43,6%; p > 0,05). Có ba yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng sa sút trí tuệ sau đột quỵ não, bao gồm: béo phì, bệnh tim mạch và đái tháo đường.
Kết luận: Tỷ lệ hiện mắc của tình trạng sa sút trí tuệ trên bệnh nhân sau đột quỵ não là 48,7% và các bệnh lý có mối liên quan với tình trạng sa sút trí tuệ sau đột quỵ não bao gồm: béo phì, bệnh tim mạch, đái tháo đường vì vậy cần phải chủ động theo dõi và sàng lọc sa sút trí tuệ ở nhóm có bệnh đồng mắc.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Đột quỵ não, Sa sút trí tuệ, DSM-5, MMSE.
Tài liệu tham khảo
[2] Maruvada, S. S., & Sankar, A. G. (2025). Mini mental state examination (MMSE) as a predictor of cognitive recovery in acute stroke. Romanian Journal of Neurology, 24(1).
[3] Zhou, D. H., Wang, J. Y., Li, J., Deng, J., Gao, C., & Chen, M. E. (2004). Study on frequency and predictors of dementia after ischemic stroke: the Chongqing stroke study. Journal of neurology, 251(4), 421-427.
[4] Madureira, S., Guerreiro, M., & Ferro, J. M. (2001). Dementia and cognitive impairment three months after stroke. European journal of neurology, 8(6), 621-627.
[5] Shi, Y., & Zhang, Z. (2017). Effect of comprehensive rehabilitation training on prevention of post-stroke dementia: a randomized controlled trial. Int. J. Clin. Exp. Med, 10, 7760.
[6] Pendlebury, S. T., & Rothwell, P. M. (2019). Incidence and prevalence of dementia associated with transient ischaemic attack and stroke: analysis of the population-based Oxford Vascular Study. The Lancet Neurology, 18(3), 248-258.
[7] Freidl, W., Schmidt, R., Stronegger, W. J., Irmler, A., Reinhart, B., & Koch, M. (1996). Mini mental state examination: Influence of sociodemographic, environmental and behavioral factors, and vascular risk factors. Journal of Clinical Epidemiology, 49(1), 73-78.
[8] Bộ Y tế. (2022). Quyết định số 2892/QĐ-BYT ngày 22 tháng 10 năm 2022 về việc ban hành tài liệu chuyên môn "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì" (Quyết định 2892/QĐ-BYT). Truy cập từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-2892-QD-BYT-2022-tai-lieu-Huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-benh-beo-phi-533849.aspx
[9] Tuấn, B. M., Kiên, N. T., & Minh, V. C. (2023). TÌNH HÌNH SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG NĂM 2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (65), 165-170.
[10] Lập, N. Đ., Thanh, H. T., Đức, N. M., & Ngọc, C. T. (2025). CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐAU TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI SA SÚT TRÍ TUỆ TẠI PHÒNG KHÁM. Tạp chí Y học Việt Nam, 552(3).
[11] Mijajlović, M. D., Pavlović, A., Brainin, M., Heiss, W. D., Quinn, T. J., Ihle-Hansen, H. B., ... & Bornstein, N. M. (2017). Post-stroke dementia–a comprehensive review. BMC medicine, 15(1), 11.
[12] Gần, C. V., & Đức, N. T. M. (2023). TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SA SÚT TRÍ TUỆ SAU ĐỘT QUỴ NÃO. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (64), 32-38.
[13] Nga, B. K., Hưng, N. T., Tuấn, T. A., Hiền, N. T., & Khanh, N. H. (2024). SA SÚT TRÍ TUỆ TRONG BỆNH MẠCH MÁU NÃO NHỎ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN. Tạp chí Y học Việt Nam, 545(2).
[14] Kim, J., Han, K. D., Lee, J. Y., Yang, Y. S., Cheon, D. Y., Lee, J. J., & Lee, M. (2025). Diabetes status, duration, and risk of dementia among ischemic stroke patients. Alzheimer's research & therapy, 17(1), 58.