XÁC ĐỊNH TỈ LỆ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT KÉM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỦ ĐỨC

Vũ Trí Thanh1, Ngô Thế Phi1, Nguyễn Thị Thu Thủy1, Đào Đắc Đức1
1 Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ kiểm soát đường huyết kém trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức và đánh giá một số yếu tố liên quan.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 355 bệnh nhân đái tháo đường type 2 được điều trị và theo dõi ngoại trú tại phòng khám nội tiết từ tháng 5-12 năm 2024 tại phòng khám nội tim mạch, phòng khám gia đình và các phòng khám nội khoa có bệnh nhân đái tháo đường type 2, trừ bệnh nhân hạn chế khả năng giao tiếp, nhận thức, có các bệnh lý ảnh hưởng đến kết quả xét ngiệm HbA1c.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 59,7 ± 11,96 (21-91 tuổi), phân bố nhiều nhất ở nhóm 51-70 tuổi (63,9%). Bệnh nhân nữ chiếm 56,2%. Thời gian đái tháo đường trung bình là 7,9 năm. Bệnh nhân thừa cân, béo phì chiếm 34,7%. Tỉ lệ bệnh nhân có vòng eo lớn chiếm 70,4%, trong đó nữ có vòng eo lớn chiếm 66%. Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng phác đồ chỉ uống thuốc hạ đường huyết chiếm 83,1%. Nhóm bệnh nhân phối hợp thuốc uống với tiêm Insulin chiếm 14,9%. Có 2% bệnh nhân chỉ sử dụng Insulin. Tỉ lệ bệnh nhân sử dụng Insulin trong kiểm soát đường huyết chiếm tỉ lệ 16,9%. Tỉ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị theo toa thuốc ở mức độ trung bình chiếm hơn 50%, tuân thủ kém chiếm 37,2%, tuân thủ tốt chiếm 12,4%. Tỷ lệ tuân thủ tốt chế độ ăn là 47,3% và luyện tập thể dục 38,9%. Tỷ lệ kiểm soát đường huyết kém (HbA1c ≥ 7%) là 57,5%, trong đó 56,1% không đạt mục tiêu đường huyết đói. Phân tích χ² cho thấy tuân thủ điều trị (thuốc, chế độ ăn, luyện tập) liên quan có ý nghĩa đến kiểm soát đường huyết (p < 0,001).


Kết luận: Nghiên cứu cho thấy kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức đạt kết quả khả quan hơn một số nghiên cứu trong nước. Thời gian mắc bệnh, tuân thủ điều trị, chế độ ăn và luyện tập có liên quan chặt chẽ đến kiểm soát đường huyết.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] American Diabetes Association Professional Practice Committee. Pharmacologic approaches to glycemic treatment: standards of care in diabetes, 2024. Diabetes Care, 2024, 47 (Supplement_1): S158-S178. doi: 10.2337/dc24-S009.
[2] Nguyen T.K et al. A cross-sectional study to evaluate diabetes management, control and complications in 1631 patients with type 2 diabetes mellitus in Vietnam (DiabCare Asia). International Journal of Diabetes in Developing Countries, 2019, 40 (Suppl 1): 70079. doi:10.1007/s13410-019-00755-w
[3] Haghighatpanah M, Nejad A.S.M, Haghighatpanah M, Thunga G, Mallayasamy S. Factors that correlate with poor glycemic control in type 2 diabetes mellitus patients with complications. Osong Public Health Res Perspect, 2018, 9 (4): 167-174. doi: 10.24171/j.phrp.2018.9.4.05.
[4] Shah S, Barot P, Patel H, Shukla A. Assessment of medication adherence in diabetes mellitus patients at a tertiary care teaching hospital in India. Cureus, 2025, 17 (2): e78391. doi: 10.7759/cureus.78391.
[5] Suprapti B, Izzah Z, Anjani A.G, Andarsari M.R, Nilamsari W.P, Nugroho C.W. Prevalence of medication adherence and glycemic control among patients with type 2 diabetes and influencing factors: a cross-sectional study. Glob Epidemiol, 2023, 5: 100113. doi: 10.1016/j.gloepi.2023.100113.