ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SAI HÌNH XƯƠNG HẠNG III BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHẺ DỌC XƯƠNG HÀM DƯỚI HAI BÊN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sai hình xương hạng III do quá triển xương hàm dưới gây ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ và chức năng nhai. Phẫu thuật chẻ dọc cành cao xương hàm dưới hai bên (BSSO) là phương pháp hiệu quả và an toàn giúp cải thiện rõ rệt tương quan xương, răng và thẩm mỹ khuôn mặt.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang của bệnh nhân sai hình xương hạng III trước điều trị và đánh giá sự thay đổi các chỉ số mô cứng trên phim sọ nghiêng sau phẫu thuật.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu dọc hồi cứu trên 46 bệnh nhân (tuổi trung bình 21,67) được phẫu thuật BSSO. Các chỉ số được đo đạc trên phim sọ nghiêng tại 3 thời điểm: trước phẫu thuật (T0), 10 ngày sau phẫu thuật (T1) và 6 tháng sau phẫu thuật (T2).
Kết quả: Sau phẫu thuật, tương quan xương hàm dưới trở về hạng I với góc SNB giảm trung bình 3,95°, góc ANB tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Sau 6 tháng, sự tái phát của xương không có ý nghĩa lâm sàng (p > 0,05).
Kết luận: Phẫu thuật BSSO đẩy lùi hàm dưới cho thấy hiệu quả cải thiện tương quan xương trong điều trị sai hình xương hạng III. Sau 6 tháng, kết quả bước đầu cho thấy xu hướng ổn định, tuy nhiên cần các nghiên cứu với thời gian theo dõi dài hơn để khẳng định chắc chắn
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Sai hình xương hạng III, Chẻ dọc xương hàm dưới hai bên (BSSO), Phẫu thuật chỉnh hình xương hàm.
Tài liệu tham khảo
[2] Reyneke J.P., Bryant R.S., Suuronen R. and Becker P.J. (2007), "Postoperative skeletal stability following clockwise and counter-clockwise rotation of the maxillomandibular complex compared to conventional orthognathic treatment", Br J Oral Maxillofac Surg, 45 (1), pp. 56-64, https://doi.org/10.1016/j.bjoms.2005.12.015
[3] Ay Ünüvar Y, Köse E. (2023), “Evaluation of Maxillary Sinus Volume of Class III Individuals with Different Jaw Positions by Cone-Beam Computed Tomography”, Turk J Orthod, 29;36(3), pp. 180-185. doi: 10.4274/TurkJOrthod.2022.2022.12.
[4] Bassam M. Abotaleb PhD ∗, Khaled Alkebsi PhD (2022), “Influence of Inferior Alveolar Nerve Exposure During Sagittal Split Osteotomy on the Rate and Timing of Baseline Sensory Recovery”, J Oral Maxillofac Surg., 80(12), pp. 1893–1901. DOI:10.1016/j.joms.2022.08.022.
[5] Martinez P, Bellot-Arcís C, Llamas JM, Cibrian R, Gandia JL, Paredes-Gallardo V (2017), “Orthodontic camouflage versus orthognathic surgery for class III deformity: comparative cephalometric analysis”, Int J Oral Maxillofac Surg, 46(4), pp. 490-495. doi: 10.1016/j.ijom.2016.12.001.
[6] Jokić D, Jokić D, Uglešić V, Macan D, Knežević P (2013), “Soft tissue changes after mandibular setback and bimaxillary surgery in Class III patients”, Angle Orthod, 83(5), pp. 817-23. doi: 10.2319/100112-775.1.
[7] Kalluf G, Tatim T. (2024), “Three-dimensional changes in the mandibular condyle in skeletal class III patients treated with orthognathic surgery: a systematic review”, British journal ò Oral and Maxillofacial Surgery, 62(10), pp. 909-916.
[8] Proffit WR, Turvey TA, Phillips C (2007), “The hierarchy of stability and predictability in orthognathic surgery with rigid fixation: an update and extension”, Head Face Med, 30, pp. 3-21. doi: 10.1186/1746-160X-3-21.
[9] Gao M, Tao Y, Bi S, Li J, Ren Z (2025), “Three-dimensional evaluation of stability after bimaxillary orthognathic surgery for skeletal class III malocclusion in patients with cleft lip and palate”, BMC Oral Health, 25(1), pp. 1833. doi: 10.1186/s12903-025-07160-2. PMID: 41291591; PMCID: PMC12649010.