TỶ LỆ TRẦM CẢM VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN HỖ TRỢ XÃ HỘI, TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN HIV NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC VỚI NAM TẠI CÁC PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
1) Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trầm cảm và các mối liên quan giữa trầm cảm với hỗ trợ xã hội, tuân thủ điều trị ở bệnh nhân nam quan hệ tình dục với nam (MSM) nhiễm HIV tại các phòng khám ngoại trú Thành phố Hồ Chí Minh. 2) Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 412 bệnh nhân MSM đang điều trị ARV tại 03 Trạm Y tế phường Xóm Chiếu, phường Chợ Lớn và phường Phú Thọ Hòa. Sử dụng phép kiểm Chi bình phương () và phép kiểm chính xác Fisher để xác định mối liên quan giữa các biến số độc lập và tình trạng trầm cảm. 3) Kết quả: Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm là 16,3%. Tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt mức rất cao với 93,9% và đa số bệnh nhân nhận được hỗ trợ xã hội ở mức cao (43,0%) và trung bình (35,9%). Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng trầm cảm với mức độ tuân thủ điều trị (p = 0,033) và mức độ hỗ trợ xã hội (p = 0,036). Ngoài ra, thu nhập và các đặc điểm hành vi tình dục cũng có liên quan đáng kể đến trầm cảm (p < 0,05). 4) Kết luận:trị. Cần tăng cường mạng lưới hỗ trợ xã hội và các can thiệp tâm lý để tối ưu hóa hiệu quả điều trị ARV.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Trầm cảm, Hỗ trợ xã hội, MSM, Tuân thủ điều trị, HIV/AIDS.
Tài liệu tham khảo
[2] Đoàn Thu Trà, Nguyễn Thu Trang, Đỗ Duy Cường. Đặc điểm kỳ thị và phân biệt đối xử ở người bệnh HIV/AIDS tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024; 537(1B). https://doi.org/10.51298/vmj.v537i1B.9101
[3] Nguyen HLT, Bui TM, Dam VAT, et al. Avoidance of healthcare service use and correlates among HIV-positive patients in Vietnam: a cross-sectional study. BMJ Open. 2023; 13(12): e074005. https://doi.org/10.1136/bmjopen-2023-074005
[4] Thai TT, Jones MK, Harris LM, et al. Screening value of the Center for Epidemiologic Studies–Depression Scale among people living with HIV/AIDS in Ho Chi Minh City, Vietnam: A validation study. BMC Psychiatry. 2016; 16: 145. https://doi.org/10.1186/s12888-016-0840-3
[5] Zimet GD, Powell SS, Farley GK, et al. Psychometric characteristics of the Multidimensional Scale of Perceived Social Support. Journal of Personality Assessment. 1990; 55(3-4): 610-617. https://doi.org/10.1080/00223891.1990.9674095
[6] Thái Thanh Trúc, Phạm Thị Thu Phương, Trần Bảo Vy, et al. Mối liên quan giữa các biến cố bất lợi và trầm cảm ở bệnh nhân HIV điều trị ngoại trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023; 525(2). https://doi.org/10.51298/vmj.v525i2.5259
[7] Kroenke K, Spitzer RL, Williams JB. The PHQ-9: validity of a brief depression severity measure. J Gen Intern Med. 2001;16(9):606-13. Available from: https://doi.org/10.1046/j.1525-1497.2001.016009606.x
[8] Nguyen TH, Truong HV, Vi MT, et al. Vietnamese version of the General Medication Adherence Scale (GMAS): Translation, adaptation, and validation. Healthcare. 2021;9(11):1471. Available from: https://doi.org/10.3390/healthcare9111471
[9] Đoàn Thu Trà, Đỗ Duy Cường. Tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân MSM điều trị HIV/AIDS tại Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023; 525(1B). https://doi.org/10.51298/vmj.v525i1B.5097