KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA HPV TRONG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG Ở PHỤ NỮ ĐỘ TUỔI TỪ 15-49 TẠI TỈNH AN GIANG

Nguyễn Hoàng Duy1, Nguyễn Thị Ngọc Trinh2, Trần Phan Ái Nhân1, Nguyễn Thị Thanh Nữ1, Lữ Thị Kiều Nương1, Nguyễn Minh Trung1, Nguyễn Thị Ngọc Trinh2, Nguyễn Thanh Hoàng2, Trần Văn Đệ1
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Trung tâm Y tế Giồng Riềng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa HPV trong ung thư cổ tử cung và các yếu tố liên quan ở phụ nữ trong độ tuổi 15-49 tại tỉnh An Giang.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, phỏng vấn 260 phụ nữ trong độ tuổi 15-49 đến khám tại Trung tâm Y tế Giồng Riềng, tỉnh An Giang.


Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức, thái độ, thực hành đúng lần lượt là 67,3%, 80% và 78,1%, trong đó người có trình độ trên trung học phổ thông và người được tiếp cận thông tin từ nhân viên y tế có kiến thức đúng cao nhất có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Đối tượng tham gia nghiên cứu có thái độ tích cực chiếm 80%, trong đó độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế là các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Những người thực hành đúng trong việc dự phòng HPV thuộc các nhóm: làm việc hưởng lương là 40,5% (p < 0,05), có trình độ học vấn trên trung học phổ thông là 100% (p < 0,01), được tiếp cận thông tin từ nhân viên y tế là 94,3% (p < 0,01).


Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành của đối tượng tham gia khảo sát là tương đối tốt, trong đó trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và phương thức tiếp cận với thông tin là yếu tố quan trọng giúp phụ nữ có được kiến thức đúng và thái độ tích cực về việc phòng ngừa lây nhiễm HPV trong ung thư cổ tử cung. Cần có sự phối hợp giữa việc cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] International Agency for Research on Cancer (IARC). Vietnam fact sheet 2022. Global Cancer Observatory, Lyon, 2024.
[2] Trần Tú Nguyệt và cộng sự. Kiến thức, thực hành tiêm vắc-xin HPV phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ 15-49 tuổi tại thành phố Cần Thơ năm 2020-2021. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023 (43): 264-271.
[3] Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (United Nations Population Fund - UNFPA). Nghiên cứu về hiệu quả đầu tư tiêm chủng HPV tại Việt Nam, Hà Nội, 2021.
[4] Chawla P.C et al. Knowledge, attitude and practice on human papillomavirus vaccination: a cross-sectional study among healthcare providers. Indian Journal of Medical Research, 2016, 144 (5): 741-749. doi: 10.4103/ijmr.IJMR_1106_14.
[5] Nguyễn Thị Thủy và cộng sự. Kiến thức, thực hành về HPV và tiêm vắc-xin HPV phòng ngừa UTCTC ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (4): 172-177. doi: 10.52163/yhc.v66i4.2891.
[6] Bansal A.B et al. Knowledge, attitude, and practices related to cervical cancer among adult women: a hospital-based cross-sectional study. Journal of Natural Science, Biology, and Medicine, 2015, 6 (2): 324-328. doi: 10.4103/0976-9668.159993.
[7] Uzorchukwu O.M et al. Knowledge, attitude and practice of cervical cancer screening and vaccination among women in Gwagwalada Area Council, Abuja Nigeria. Journal of Advanced Research in Medical and Health Science, 2025, 11 (8): 1-7. doi: 10.61841/t585zc72.
[8] Tao G et al. Estimating Chlamydia screening rates by using reported sexually transmitted disease tests for sexually active women aged 16 to 25 years in the United States. Sexually Transmitted Diseases, 2007, 34 (3): 180-182. doi: 10.1097/01.olq.0000230437.79119.31.
[9] Trần Thị Nga. Thực trạng truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến huyện và đánh giá mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo dục sức khỏe ở Trung tâm Y tế huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Luận án tiến sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[10] Endarti D et al. Knowledge, perception, and acceptance of HPV vaccination and screening for cervical cancer among women in Yogyakarta province, Indonesia. Asian Pacific Journal of Cancer Prevention, 2018, 19 (4), 1105-1111. doi: 10.22034/APJCP.2018.19.4.1105.