NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THIẾU MÁU TRONG THAI KỲ CỦA THAI PHỤ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY

Nguyễn Thị Hương Linh1,2, Nguyễn Thị Mỹ Xuân1,2, Nguyễn Thị Kim Dung1,2, Nguyễn Thị Hân1,2, Nguyễn Thị Hồng1,2, Nguyễn Thị Hiền1,2, Nguyễn Thị Mỹ Xuân1,2, Nguyễn Thị Như1, Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Nguyễn Thị Hiền3
1 Trung tâm Sức khỏe phụ nữ, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
2 Trường Khoa học sức khỏe, Đại học VinUni
3 Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng thiếu máu trong thai kỳ của thai phụ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2024-2025.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 2572 thai phụ sinh tại Bệnh viện Quốc tế Vinmec Times City từ ngày 1/7/2024 đến ngày 30/6/2025.


Kết quả: Tuổi trung bình của thai phụ là 33,8 ± 4,6 tuổi. Tỷ lệ thiếu máu ở quý I, quý II và quý III lần lượt là 5,8%; 23,6% và 15,3%, với tỷ lệ thiếu máu chung là 15,4%. Không ghi nhận thiếu máu nặng, thiếu máu nhẹ chiếm đa số (82%). Tình trạng thiếu máu gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 25 đến dưới 35 (16,4%) và thấp nhất ở nhóm 35 đến dưới 40 tuổi (13,9%), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo số lần sinh và nồng độ ferritin của thai phụ với tình trạng thiếu máu thai kỳ (p < 0,05).


Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu là 15,4%, chủ yếu là thiếu máu nhẹ. Tình trạng thiếu máu cao nhất ở quý II thai kỳ. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu với số lần sinh và nồng độ ferritin. Kết quả nhấn mạnh vai trò của dự trữ sắt và sự cần thiết của sàng lọc, bổ sung vi chất kịp thời trong thai kỳ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] World Health Organization. Guideline on haemoglobin cutoffs to define anaemia in individuals and populations, 2024.
[2] Stevens et al G.A. Global, regional, and national trends in haemoglobin concentration and prevalence of total and severe anaemia in children and pregnant and non-pregnant women for 1995-2011: a systematic analysis of population-representative data. The Lancet Global Health, 2013, 1 (1): e16-e25. doi: 10.1016/S2214-109X(13)70001-9.
[3] Siridamrongvattana S et al. Burden of anemia in relation to thalassemia and iron deficiency among Vietnamese pregnant women. Acta Haematologica, 2013, 130 (4): 281-287. doi: 10.1159/000351168.
[4] Means R.T. Iron deficiency and iron deficiency anemia: implications and impact in pregnancy, fetal development, and early childhood parameters. Nutrients, 2020, 12 (2): 447. doi: 10.3390/nu12020447.
[5] Vi Lương Bộ và cộng sự. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai và một số yếu tố ảnh hưởng tại trung tâm y tế huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 2019-2024. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 542 (3): 117-121. doi: 10.51298/vmj.v542i3.11185.
[6] World Health Organization. Global anaemia estimates in women of reproductive age, by pregnancy status, and in children aged 6-59 months. https://bit. ly/3uTEuoG, 2022.
[7] Scholl T.O. Maternal iron status: relation to fetal growth, length of gestation, and iron endowment of the neonate. Nutrition Reviews, 2011, 69 (Suppl 1): S23-S29. doi: 10.1111/j.1753-4887.2011.00429.x.
[8] Rahman M.M et al. Maternal anemia and risk of adverse birth and health outcomes in low-and middle-income countries: systematic review and meta-analysis. The American Journal of Clinical Nutrition, 2016, 103 (2): 495-504. doi: 10.3945/ajcn.115.107896.
[9] Pavord S, Daru J et al. UK guidelines on the management of iron deficiency in pregnancy. British Journal of Haematology, 2020, 188 (6): 819-830. doi: 10.1111/bjh.16221.