ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI KEROS, GERA VÀ YENIGUN TRONG ĐÁNH GIÁ HÌNH THÁI MẢNH BÊN XƯƠNG SÀNG QUA CẮT LỚP VI TÍNH

Nguyễn Thị Kiều Thơ1,2, Lê Văn Nên1, Nguyễn Đình Chương1,2
1 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả phân bố mức độ nguy cơ theo ba hệ thống phân loại Keros, Gera và Yenigun, đồng thời phân tích mối liên quan giữa các hệ thống phân loại này và giữa ba thông số độ sâu, góc nghiêng và chiều dài của mảnh bên xương sàng (LLCP) trên phim cắt lớp vi tính.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 149 bệnh nhân (tương ứng 298 bên hốc mũi) tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 06/2024 đến tháng 06/2025. Các biến số khảo sát bao gồm: độ sâu hố khứu (Keros), góc nghiêng mảnh bên (Gera) và chiều dài mảnh bên (Yenigun). Phân phối của các biến liên tục được kiểm tra bằng kiểm định Shapiro-Wilk. Do dữ liệu gồm hai bên hốc mũi của cùng một bệnh nhân, các phân tích mối liên hệ được thực hiện chủ yếu bằng mô hình Generalized Estimating Equations (GEE) với ID bệnh nhân là đơn vị cụm; phân tích tương quan Spearman trên giá trị trung bình hai bên mỗi bệnh nhân được trình bày bổ sung.


Kết quả: Theo phân loại Keros, nhóm nguy cơ trung bình (loại II) chiếm ưu thế tuyệt đối (89,6%), trong khi nhóm nguy cơ cao (loại III) chỉ chiếm 2,3%. Tuy nhiên, phân loại Gera phát hiện tỷ lệ nhóm nguy cơ cao (loại III, góc < 45°) lên tới 15,8%. Đối với chiều dài mảnh bên, giá trị trung bình là 11,83 ± 2,15 mm; phân loại Yenigun ghi nhận 7,0% trường hợp thuộc nhóm nguy cơ cao (loại III > 15 mm). Phân tích thống kê cho thấy chiều dài mảnh bên có xu hướng độc lập với độ sâu và góc nghiêng. Đáng chú ý, 95,2% các trường hợp có mảnh bên dài nguy hiểm (Yenigun loại III) lại nằm ẩn trong nhóm Keros được xem là an toàn hoặc trung bình.


Kết luận: Phân loại Keros đơn thuần chưa phản ánh đầy đủ tính đa chiều của hình thái nền sọ trước. Trong mẫu nghiên cứu này, chiều dài mảnh bên theo Yenigun là một tham số hình thái có xu hướng độc lập với độ sâu và góc nghiêng. Việc cân nhắc kết hợp đồng thời các thông số độ sâu, góc nghiêng và chiều dài có thể giúp đánh giá tiền phẫu toàn diện hơn các biến thể nguy cơ của mảnh bên xương sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Alazzawi S, Omar R, Rahmat K, Alli K. Radiological analysis of the ethmoid roof in the Malaysian population. Auris Nasus Larynx. 2012;39(4):393–6. doi: 10.1016/j.anl.2011.10.002.
[2] Souza SA, Souza MMAd, Idagawa M, Wolosker ÂMB, Ajzen SA. Computed tomography assessment of the ethmoid roof: a relevant region at risk in endoscopic sinus surgery. Radiologia Brasileira. 2008;41:143–7. doi: 10.1590/S0100-39842008000300003.
[3] Kolak M, Kızılgöz V, Kantarci M. Examination of ethmoidal roof regarding Keros and Yenigun classifications in a Turkish population: a computerized tomography study. Surgical and Radiologic Anatomy. 2024;46(1):19–25. doi: 10.1007/s00276-023-03270-0.
[4] Yenigun A, Goktas SS, Dogan R, Eren SB, Ozturan O. A study of the anterior ethmoidal artery and a new classification of the ethmoid roof (Yenigun classification). European Archives of Oto-Rhino-Laryngology. 2016;273(11):3759–64. doi: 10.1007/s00405-016-4064-8.
[5] Preti A, Mozzanica F, Gera R, Gallo S, Zocchi J, Bandi F, et al. Horizontal lateral lamella as a risk factor for iatrogenic cerebrospinal fluid leak: Clinical retrospective evaluation of 24 cases. Rhinology. 2018;56(4):358–63. doi: 10.4193/Rhin18.103.
[6] Solares CA, Lee WT, Batra PS, Citardi MJ. Lateral lamella of the cribriform plate: software-enabled computed tomographic analysis and its clinical relevance in skull base surgery. Archives of Otolaryngology–Head & Neck Surgery. 2008;134(3):285–9. doi: 10.1001/archotol.134.3.285.