KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG GÃY KÍN XƯƠNG BẢ VAI BẰNG NẸP VÍT

Trịnh Đình Thanh1, Nguyễn Mạnh Khánh2, Phạm Văn Thương1
1 Bộ môn Ngoại và Phẫu thuật thực hành, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương gãy kín xương bả vai bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 bệnh nhân gãy kín xương bả vai được phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ tháng 12/2023 đến tháng 9/2025. Đặc điểm tổn thương được đánh giá trên X quang và chụp cắt lớp vi tính, phân loại theo AO/OTA 2018. Các yếu tố phẫu thuật được ghi nhận gồm tư thế bệnh nhân, đường mổ, số nẹp vít, thời gian phẫu thuật và lượng máu truyền. Kết quả điều trị được đánh giá qua mức độ đau sau mổ, tình trạng liền vết mổ, chức năng khớp vai theo thang điểm Constant-Murley và chất lượng cuộc sống theo thang điểm EQ-5D-5L tại thời điểm kết thúc theo dõi.


Kết quả: Tư thế phẫu thuật thường được sử dụng là tư thế nằm sấp (65,7%), tiếp theo là tư thế nằm nghiêng (34,3%). Hai đường mổ chủ yếu là đường Judet cải tiến (37,1%) và đường Brodsky (62,9%). Phần lớn trường hợp được kết hợp xương bằng 1 nẹp vít khóa, một số trường hợp gãy phức tạp cần sử dụng 2 nẹp. Thời gian phẫu thuật trung bình 48,7 ± 12,3 phút. Đa số bệnh nhân không cần truyền máu trong mổ (88,6%). Sau phẫu thuật, mức độ đau giảm rõ rệt, vết mổ liền tốt và tỷ lệ biến chứng thấp. Tại thời điểm kết thúc theo dõi, chức năng khớp vai cải thiện rõ rệt, phần lớn bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt theo thang điểm Constant-Murley, đồng thời chỉ số chất lượng cuộc sống EQ-5D-5L cũng được cải thiện đáng kể.


Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương gãy kín xương bả vai bằng nẹp vít cho kết quả điều trị khả quan với thời gian phẫu thuật ngắn, tỷ lệ biến chứng thấp và phục hồi tốt chức năng khớp vai cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Zlowodzki M, Bhandari M, Zelle B.A, Kregor PJ, Cole P.A. Treatment of scapula fractures: systematic review of 520 fractures in 22 case series. J Bone Joint Surg Am, 2006, 88 (3): 653-660. doi: 10.2106/JBJS.E.00882
[2] Cole P.A, Gauger E.M, Herrera D.A. Anterior approach for scapular fractures and glenohumeral instability. J Orthop Trauma, 2012, 26 (4): e43-e49. doi: 10.1097/BOT.0b013e318223b37d
[3] Hardegger F.H, Simpson L.A, Weber B.G. The operative treatment of scapular fractures. J Bone Joint Surg Br, 1984, 66 (5): 725-731. doi: 10.1302/0301-620X.66B5.6501367
[4] Anavian J, Gauger E.M, Schroder L.K, Wijdicks C.A, Cole P.A. Surgical management of scapular fractures: results of operative treatment. J Bone Joint Surg Am, 2011, 93 (20): 1873-1879. doi: 10.2106/JBJS.J.00273
[5] Herrera D.A, Anavian J, Tarkin I.S, Armitage B.A, Schroder L.K, Cole P.A. Delayed operative management of scapular fractures. J Orthop Trauma, 2009, 23 (3): 202-207. doi: 10.1097/BOT.0b013e31819b24a5
[6] Sernandez H.C, Riehl J.T, Fogel J. Sling and forget it? A systematic review of operative versus nonoperative outcomes for scapula fractures. J Shoulder Elbow Surg, 2024, 33 (12): 2743-2754. doi: 10.1016/j.jse.2024.05.018
[7] Schmidt V, Wennergren D, Bergdahl C et al. Epidemiology, treatment, and mortality of 3973 scapula fractures from the Swedish Fracture Register. J Shoulder Elbow Surg, 2025, 34 (1): e47-e56. doi: 10.1016/j.jse.2024.08.022