ĐẶC ĐIỂM VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN SƠ SINH Ở TRẺ ĐẺ NON TẠI TRUNG TÂM NHI KHOA, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Đỗ Tuấn Anh1, Nguyễn Thành Nam1, Phạm Trung Kiên2, Trần Thị Vân Anh2, Tạ Quang Thành3, Phạm Văn Đếm1,2
1 Bệnh viện Bạch Mai
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Bệnh viện Nam Thăng Long

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả dặc điểm và kết quả điều trị nhiễm khuẩn sơ sinh ở trẻ đẻ non tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh trên 104 trẻ sơ sinh đẻ non chẩn đoán nhiễm khuẩn sơ sinh trong năm 2024.
Kết quả: Nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là 40,4% và nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là 59,6%. Tỷ lệ trẻ có mẹ bị nhiễm khuẩn trong thai kỳ ở nhóm NKSS sớm cao gấp 2,7 lần so với nhóm NKSS muộn (25,8% so với 9,5%). Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (p=0,039). Thở nhanh là triệu chứng phổ biến nhất, gặp ở 77,9% (81/104) trẻ. Rút lõm lồng ngực , chiếm 71,2% (74/104) trường hợp. Cơn ngừng thở gặp58,7%, thở rên gặp 47,1%, độ bão hòa oxy giảm <90% là 48,1% trẻ . NKSS muộn có thời gian nằm viện dài hơn có ý nghĩa thống kê (Trung vị là 33,5 ngày) so với NKSS sớm (Trung vị là 25,5 ngày). Phác đồ sử dụng 1 loại kháng sinh nhiều nhất ở nhóm NKSS sớm với 40,3%, còn với NKSS muộn chủ yếu là sử dụng >03 loại kháng sinh với 54,8%. Trong đó, ampicilin được sử dụng nhiều nhất ở cả 2 nhóm này. Sau khi dùng kháng sinh ban đầu, lí do thay đổi kháng sinh lần 1 chủ yếu là theo kháng sinh đồ (36,5%). Với lần thay đổi kháng sinh tiếp theo chủ yếu là hạ bậc kháng sinh (44,2%).
Kết luận: Từ kết quả này cho thấy nhiễm khuẩn sơ sinh muộn, do thường mắc phải trong môi trường bệnh viện và có khả năng liên quan đến các tác nhân kháng thuốc, là một tình trạng nặng, đòi hỏi can thiệp tích cực hơn và kéo dài thời gian điều trị, dẫn đến thời gian nằm viện dài hơn so với nhiễm khuẩn sơ sinh sớm.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2025), Nhiễm khuẩn sơ sinh trong Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ và chăm sóc trẻ sơ sinh. Nhà xuất bản Y học, tr. 447-485.
2.. Aleem S., Wohlfarth M., Cotten C.M. et al. (2020). Infection control and other stewardship strategies in late onset sepsis, necrotizing enterocolitis, and localized infection in the neonatal intensive care unit. Seminars in Perinatology, 44(8), 1-14, DOI: 10.1016/j.semperi.2020.151326
3. Trần Diệu Linh và Phan Thị Thu Nga (2013). Nghiên cứu tình hình bệnh lý và tử vong trẻ sơ sinh non tháng-thấp cân tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2010. Tạp chí Phụ sản, 11(2), 65–69, doi.org/10.46755/vjog.2013.2.386
4. Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Tiến Dũng và Đồng Khắc Hưng (2016). Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh bị suy hô hấp nặng cần thở máy ngay sau đẻ. Tạp chí Y học Việt Nam, 449, 72–77.
5. Kairamkonda V, Stachow L, Koo S (2019) Antibiotics for Neonatal Infection UHL Neonatal Guideline. NHS - University Hospitals of Leicester, 1-20.
6. Wang F., Permana I., Chaerasari C. et al (2021). Infection Control Improvement of a Negative-Pressurized Pediatric Intensive Care Unit. Healthcare (Basel), 9(11), doi: 10.3390/healthcare9111500
7. Ajulo S. và Awosile B. (2024). Global antimicrobial resistance and use surveillance system (GLASS 2022): Investigating the relationship between antimicrobial resistance and antimicrobial consumption data across the participating countries. PLoS One, 19(2), doi: 10.1371/journal.pone.0297921
8. Bech C.M., Stensgaard C.N., Lund S. et al. (2022). Risk factors for neonatal sepsis in Sub-Saharan Africa: a systematic review with meta-analysis. BMJ Open
12(9), doi: 10.1136/bmjopen-2021-054491
9. El Manouni El Hassani S., Berkhout D.J., Niemarkt H.J. et al. (2019). Risk factors for late-onset sepsis in preterm infants: a multicenter case-control study. Neonatology, 116(1), 42–51, DOI: 10.1159/000497781