ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN CHÂM CỨU TRUNG ƯƠNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp thống kê toàn bộ 206 điều dưỡng đang công tác tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, trung tâm và phòng chức năng của Bệnh viện Châm cứu Trung ương tại thời điểm khảo sát năm 2023. Nguồn số liệu bao gồm báo cáo nhân lực điều dưỡng, bảng phân công công việc, số liệu thống kê chuyên môn, báo cáo đào tạo, thi đua khen thưởng, cùng các văn bản, quyết định của bệnh viện và các quy định hiện hành liên quan đến quản lý nhân lực y tế.
Kết quả: Năm 2023, Bệnh viện Châm cứu Trung ương có 206 điều dưỡng, trong đó nữ chiếm 68,0%; nhóm tuổi 30–39 chiếm tỷ lệ cao nhất (49,5%). Điều dưỡng có trình độ cao đẳng chiếm 50,0%, cử nhân chiếm 34,0%, sau đại học chiếm 1,9%. Mức thu nhập phổ biến của điều dưỡng dao động từ 5.000.000 đồng đến dưới 8.500.000 đồng/tháng. Tỷ lệ nhân viên y tế/giường bệnh của bệnh viện là 1,04, thấp hơn mức tham chiếu theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Tỷ lệ điều dưỡng/giường bệnh của toàn bệnh viện tương đương 0,34 điều dưỡng/giường, hay trung bình 1 điều dưỡng phụ trách 2,95 giường bệnh.
Kết luận: Nguồn nhân lực điều dưỡng tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương có cơ cấu tương đối ổn định về giới tính, độ tuổi và trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, tổng tỷ lệ nhân viên y tế/giường bệnh của bệnh viện còn thấp hơn mức tham chiếu theo quy định hiện hành; đồng thời việc phân bổ điều dưỡng giữa các bộ phận cần tiếp tục được rà soát nhằm bảo đảm sử dụng nhân lực phù hợp và hiệu quả hơn.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
nhân lực, điều dưỡng, bệnh viện
Tài liệu tham khảo
[2] Đào Văn Dũng, Nguyễn Kim Phượng (2015), “Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực y tế khu vực miền núi phía Bắc”, Tạp chí Y học cộng đồng, 26, tr. 4–7.3.
[3] Wynne R, Davidson, P Duffield C et al (2021), "Workforce management and patient outcomes in the intensive care unit during the COVID-19 pandemic and beyond: a discursive paper", Journal of clinical nursing, 10.1111/jocn.15916.
[4] Nguyễn Thị Thu Hương, Đào Văn Dũng, Phan Quốc Hưng, Lê Việt Cường (2020), "Thực trạng nguồn nhân lực và một số yếu tố liên quan đến động lực làm việc của nhân viên y tế tại trung tâm y tế huyện lâm thao, phú thọ năm 2020", Tạp chí Y học cộng đồng, 2(63), 94-98.
[5] Phạm Trí Dũng và Lê Ngọc Trọng (2008), Mô tả và đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, nhân lực, chuyên môn và công tác quản lý của hệ thống bệnh viện Việt Nam, Hà Nội., Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ Bộ Y tế.
[6] Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (2007), Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT- BYT-BNV ngày 05 tháng 06 năm 2007: Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các có sở y tế nhà nước., chủ biên.
[7] Bộ Y tế (2015), Quyết định 2992/QĐ-BYT ngày 17/7/2015 của Bộ Y tế phê kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2015 – 2020, chủ biên.
[8] Rachel N., Tanya C. Bygbjerg C (2006), "Improving motivation among primary health care workers in Tanzania: a health worker perspective", Human resources for health, 4, 6-6.
[9] Willis M, Midwell P Thomas S et al (2008), "Motivation and retention of health workers in developing countries: a systematic review", BMC health services research, 8, 247-247.