HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP ĐA TRỊ LIỆU TRONG KIỂM SOÁT ĐAU VÀ CẢI THIỆN CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG Ở NGƯỜI BỆNH THOÁI HÓA KHỚP GỐI

Mai Đức Hân1, Phí Thị Ngọc1, Nguyễn Thị Hoa Tươi1, Bùi Quốc Hưng1, Bùi Thanh Tùng2
1 Khoa Y học cổ truyền - Trường ĐH Y Dược Thái Bình
2 Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Thoái hóa khớp gối là bệnh lý cơ xương khớp mạn tính thường gặp, gây đau kéo dài, hạn chế vận động và làm giảm chất lượng sống, đặc biệt ở người cao tuổi. Trong điều trị bảo tồn, các biện pháp đa mô thức được sử dụng ngày càng rộng rãi nhằm tối ưu hóa kiểm soát triệu chứng và cải thiện chức năng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá giá trị bổ sung của sóng xung kích khi phối hợp với phác đồ Y học cổ truyền nền ở người bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng, theo dõi trước-sau trên 60 người bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát điều trị nội trú. Người bệnh được chọn mẫu thuận tiện và chia thành 2 nhóm bằng nhau. Nhóm nghiên cứu được điều trị bằng sóng xung kích kết hợp bài thuốc “Tam tý thang”, điện châm và xoa bóp bấm huyệt; nhóm đối chứng sử dụng phác đồ Y học cổ truyền nền không có sóng xung kích. Các chỉ tiêu đánh giá chính gồm mức độ đau theo thang điểm VAS, chức năng vận động theo thang điểm WOMAC và tầm vận động gấp khớp gối. Thời gian theo dõi là 15 ngày.


Kết quả: Trước điều trị, hai nhóm tương đồng về tuổi, giới, thời gian mắc bệnh, BMI, mức độ đau ban đầu, điểm WOMAC, tầm vận động gấp gối và mức độ tổn thương X-quang (p > 0,05). Sau 15 ngày điều trị, điểm VAS trung bình ở nhóm nghiên cứu giảm xuống 2,73 ± 0,69, thấp hơn nhóm đối chứng là 3,23 ± 0,57 (p < 0,05). Điểm WOMAC chung ở nhóm nghiên cứu giảm còn 19,72 ± 2,56, thấp hơn nhóm đối chứng là 21,83 ± 3,43 (p < 0,05). Hiệu suất tăng tầm vận động gấp gối sau 15 ngày ở nhóm nghiên cứu đạt 17,53 ± 3,51 độ, cao hơn nhóm đối chứng là 13,97 ± 4,39 độ (p < 0,05). Tác dụng không mong muốn gặp với tỷ lệ thấp, chủ yếu là đau tăng nhẹ thoáng qua hoặc bầm tím nhẹ tại chỗ điều trị; không ghi nhận biến cố nghiêm trọng hay trường hợp bỏ trị.


Kết luận: Trong thời gian theo dõi ngắn hạn 15 ngày, việc bổ sung sóng xung kích vào phác đồ Y học cổ truyền nền có liên quan với cải thiện tốt hơn về đau và một số chỉ số chức năng ở người bệnh thoái hóa khớp gối nguyên phát. Cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn, có thiết kế chặt chẽ hơn và thời gian theo dõi dài hơn để khẳng định hiệu quả duy trì của phương pháp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] GBD 2021 Osteoarthritis Collaborators. Global, regional, and national burden of osteoarthritis, 1990-2020 and projections to 2050: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2021. Lancet Rheumatol. 2023;5(9):e508-e522. doi:10.1016/S2665-9913(23)00163-7.
[2] Dantas LO, Salvini TF, McAlindon TE. Knee osteoarthritis: key treatments and implications for physical therapy. Braz J Phys Ther. 2021;25(2):135-146. doi:10.1016/j.bjpt.2020.08.004.
[3] Kolasinski SL, Neogi T, Hochberg MC, Oatis C, Guyatt G, Block J, et al. 2019 American College of Rheumatology/Arthritis Foundation guideline for the management of osteoarthritis of the hand, hip, and knee. Arthritis Care Res (Hoboken). 2020;72(2):149-162. doi:10.1002/acr.24131.
[4] Bannuru RR, Osani MC, Vaysbrot EE, Arden NK, Bennell K, Bierma-Zeinstra SMA, et al. OARSI guidelines for the non-surgical management of knee, hip, and polyarticular osteoarthritis. Osteoarthritis Cartilage. 2019;27(11):1578-1589. doi:10.1016/j.joca.2019.06.011.
[5] Altman R, Asch E, Bloch D, Bole G, Borenstein D, Brandt K, et al. Development of criteria for the classification and reporting of osteoarthritis: Classification of osteoarthritis of the knee. Arthritis Rheum. 1986;29(8):1039-1049. doi:10.1002/art.1780290816.
[6] Kellgren JH, Lawrence JS. Radiological assessment of osteo-arthrosis. Ann Rheum Dis. 1957;16(4):494-502. doi:10.1136/ard.16.4.494.
[7] Huskisson EC. Measurement of pain. Lancet. 1974;2(7889):1127-1131. doi:10.1016/S0140-6736(74)90884-8.
[8] Ackerman IN. Western Ontario and McMaster Universities Osteoarthritis Index (WOMAC). Aust J Physiother. 2009;55(3):213. doi:10.1016/S0004-9514(09)70088-1.
[9] Imamura M, Alamino S, Hsing WT, Alfieri FM, Schmitz C, Battistella LR. Radial extracorporeal shock wave therapy for disabling pain due to severe primary knee osteoarthritis. J Rehabil Med. 2017;49(1):54-62. doi:10.2340/16501977-2148.
[10] Avendaño-Coy J, Comino-Suárez N, Grande-Muñoz J, Avendaño-López C, Gómez-Soriano J. Extracorporeal shockwave therapy improves pain and function in subjects with knee osteoarthritis: a systematic review and meta-analysis of randomized clinical trials. Int J Surg. 2020;82:64-75. doi:10.1016/j.ijsu.2020.07.055.