NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP CHẤM DỨT THAI KỲ CỦA THAI PHỤ CON SO VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA BÌNH THUẬN: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG MÔ TẢ PHÂN TÍCH

Nguyễn Cẩm Tú1, Hoàng Lê Minh Tuấn2, Trần Văn Tú1, Nguyễn Quốc Tuấn3
1 Bệnh viện đa khoa Bình Thuận
2 Bệnh viện đa khoa Đồng Nai
3 Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: thai phụ con so có những đặc điểm cần quan tâm trong thai kỳ và chuyển dạ. Việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, phương pháp chấm dứt thai kỳ và các yếu tố liên quan ở thai phụ con so sẽ giúp người thầy thuốc có thể đưa ra những khuyến cáo phù hợp cho từng trường hợp cụ thể nhằm làm giảm những tai biến sản khoa.


Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả đặc điểm của những thai phụ con so, 2. Xác định tỷ lệ mổ lấy thai và các yếu tố liên quan.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích, tất cả những thai phụ con so, đủ tháng nhập viện và chấm dứt thai kỳ tại khoa sản Bệnh viện đa khoa Bình thuận.


Kết quả: Độ tuổi trung bình là 23,8 tuổi. Đa số có chỉ số khối bình thường (56%), tỷ lệ nhóm thai phụ thừa cân, béo phì cao hơn nhóm thai phụ gầy (23 % so với 21%). Tỷ lệ thai phụ làm xét nghiệm GBS chiếm 71%, thì tỷ lệ dương tính là 15,5%. Tỷ lệ mổ lấy thai cao hơn sinh ngả âm đạo (57% so với 43%). Thai phụ ≥ 35 tuổi có xu hướng mổ lấy thai cao hơn thai phụ con so < 35 tuổi (OR= 3,17), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,387). Nhóm có BMI ≥ 23 có khả năng mổ lấy thai cao hơn nhóm có BMI< 23.


Kết luận: Thai phụ con so có tỷ lệ mổ lấy thai cao hơn sinh ngả âm đạo, đặc biệt là nhóm thai phụ ≥ 35 tuổi.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Phùng Ngọc Hân, Lê Minh Tâm, Trương Quang Vinh (2017), “Chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế”, Tạp Chí Phụ sản, Số 15(1), tr 41-46.
DOI: 10.46755/vjog.2017.1.309
2. Phùng Thị Hải Minh, Nguyễn Quảng Bắc, Ngô Toàn Anh (2024), “Nhận xét các chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản nhi Vĩnh Phúc năm 2023”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 539 (1B)
DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v539i1B.9938
3. Nguyễn Việt Hoàng, Nguyễn Tuấn Minh, Đặng Thị Minh Nguyệt (2023), “Chỉ định mổ lấy thai con so nguyên nhân do thai tại Bệnh Viện Đa khoa Đức Giang”, Tạp Chí Y học Việt Nam, Số 522(1), tr.335-339.
DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v522i1.4290
4. Parisa Khosravi, Soheila Pirdadeh beiranvand, Behrouz Beiranvand, Zahra Bostani Khalesi (2022), “Relationship between Primigravid women’s awareness, attitude, fear of childbirth, and mode of delivery preference”, European Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology: X, Volume 14
doi: 10.1016/j.eurox.2022.100143.
5. Nguyễn Quốc Tuấn và cộng sự (2024), “Nghiên cứu đặc điểm của quá trình chuyển dạ và phương pháp chấm dứt thai kỳ ở những trường hợp thừa cân béo phì tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở.
6. Bộ y tế (2016), “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Quản lý thai”, Nhà Xuất bản Y học, tr. 45-47, Hà Nội.
7. WHO (2016), “WHO recommendations on antenatal care for a positive pregnancy experience”, ISBN 978 92 4 154991 2
8. Hassanzadeh, R., Abbas-Alizadeh, F., Meedya, S., Mohammad-Alizadeh-Charandabi, S., & Mirghafourvand, M. (2020). Fear of childbirth, anxiety and depression in three groups of primiparous pregnant women not attending, irregularly attending and regularly attending childbirth preparation classes. BMC women's health, 20(1), 180.
doi: 10.1186/s12905-020-01048-9.