ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, PHƯƠNG PHÁP XỬ TRÍ VÀ CHĂM SÓC SẢN PHỤ SUY THAI TRONG CHUYỂN DẠ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÁI BÌNH NĂM 2024
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, xử trí và chăm sóc sản phụ suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình năm 2024.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu qua khảo sát 143 sản phụ được chẩn đoán suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp xử trí sản khoa và theo dõi chăm sóc sản phụ suy thai cấp trong chuyển dạ.
Kết quả: Tuổi trung bình của sản phụ là 27,5 (88,1% dưới 35 tuổi), chủ yếu là sản phụ sinh con so (67,8%). Nước ối nhiễm phân su là triệu chứng điển hình nhất (87,4%). Tỷ lệ ối vỡ sớm chiếm 62,9%; bất thường lượng ối chiếm 15,4%; 12,6% có cơn co mau mạnh; 14% dây rốn quấn cổ và 3,5% có chỉ số não-rốn < 1; 21,7% trường hợp nhịp tim thai bất thường, trong đó nhịp chậm chiếm ưu thế (12,6%). Các dạng DIP bất thường và nhịp phẳng chiếm 7,7%. Về xử trí thì mổ lấy thai là phương pháp xử trí chính (90,2%); sinh đường âm đạo và Forceps chiếm tỷ lệ thấp (9,8%). 100% sản phụ được thực hiện chăm sóc toàn diện khẩn cấp (thở oxy, theo dõi tim thai/cơn co, hỗ trợ tinh thần và chuẩn bị sẵn sàng hồi sức sơ sinh), nằm nghiêng trái (86,7%) và truyền glucose (22,4%).
Kết luận: Dấu hiệu hay gặp nhất để chẩn đoán sớm suy thai trong chuyển dạ là nước ối nhiễm phân su và bất thường nhịp tim thai trên monitoring, cần kết hợp chăm sóc tích cực toàn diện và xử trí sản khoa kịp thời để đảm bảo kết quả sản khoa an toàn.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, xử trí, chăm sóc, suy thai trong chuyển dạ.
Tài liệu tham khảo
[2] Moshiro R, Mdoe P, Perlman J.M. A global view of neonatal asphyxia and resuscitation. Frontiers in Pediatrics, 2019, 7: 489. doi: 10.3389/fped.2019.00489.
[3] Đỗ Thị Hằng Nga. Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và các biện pháp xử trí suy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2018-2019. Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019.
[4] Trần Ngọc Hải, Nguyễn Hữu Thịnh, Đặng Minh Đức và cộng sự. Suy thai cấp. Báo cáo khoa học tại Bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chính Minh, 2017.
[5] Cấn Bá Quát, Hoàng Thị Ngọc Trâm, Trương Văn Vũ và cộng sự. Nghiên cứu xử trí thiểu ối ở tuổi thai đủ tháng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 247 (1B): 197-200. doi: 10.51298/vmj.v527i1B.5772
[6] Trương Thị Linh Giang. Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí suy thai cấp tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2018, 8 (5): 20. doi: 10.34071/jmp.2018.5.3
[7] Michaeli J, Srebnik N, Zilberstein Z et al. Intrapartum fetal monitoring and perinatal risk factors of neonatal hypoxic-ischemic encephalopathy. Arch Gynecol Obstet, 2021, 303: 409-417. doi: 10.1007/s00404-020-05757-2.
[8] Clark A.R, Fontinha H, Thompson J et al. Maternal cardiovascular responses to position change in pregnancy. Biology (Basel), 2023, 12 (9): 1268. doi: 10.3390/biology12091268.
[9] Couper S, Clark A, Thompson J.M.D et al. The effects of maternal position, in late gestation pregnancy, on placental blood flow and oxygenation: an MRI study. J Physiol, 2021, 599 (6): 1901-1915. doi: 10.1113/JP280569.