KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG VIÊM TEO DẠ DÀY Ở NGƯỜI SỬ DỤNG THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Dương Huệ Phương1, Bùi Thị Hương Quỳnh2, Quách Tiến Phong3, Võ Duy Thông2,3
1 Bệnh viện Mắt Á Châu
2 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
3 Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc ức chế bơm proton với tình trạng viêm teo dạ dày và các yếu tố nguy cơ có khả năng thúc đẩy quá trình viêm teo.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 300 người bệnh tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1/2022-1/2024. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 48,5 ± 13,5 tuổi, đa số là nữ giới. Có 129 đối tượng (43%) được chẩn đoán viêm teo dạ dày, chủ yếu mức độ nhẹ (73,6%). Sử dụng thuốc ức chế bơm proton được ghi nhận ở 98 người bệnh (32,7%), trong đó 12 người sử dụng bơm proton kéo dài (sử dụng ít nhất 6 tháng/năm với chế độ dùng 1 lần/ngày). Mặc dù không có mối liên quan rõ ràng giữa việc sử dụng thuốc ức chế bơm proton kéo dài và viêm teo dạ dày (OR = 1,341; p = 0,618) nhưng nhóm người bệnh được điều trị bằng Esomeprazole 20 mg × 2 lần/ngày liên quan đến nguy cơ viêm teo dạ dày cao gấp 5,015 lần (95% CI: 1,938-12,982, p = 0,001). Ngoài ra, các yếu tố khác có liên quan có ý nghĩa thống kê đến nguy cơ mắc viêm teo dạ dày (p < 0,05) bao gồm: tuổi cao, hút thuốc lá, uống rượu bia và nhiễm H.pylori.


Kết luận: Việc sử dụng thuốc ức chế bơm proton kéo dài không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với viêm teo dạ dày. Tuy nhiên, chế độ điều trị Esomeprazole 20 mg × 2 lần/ngày có liên quan đến nguy cơ viêm teo dạ dày cao hơn. Ngoài ra các yếu tố khác gồm tuổi cao, hút thuốc lá, uống rượu bia và nhiễm H.pylori cũng tăng nguy cơ gây viêm teo dạ dày. Do đó cần theo dõi chặt chẽ hơn những người bệnh sử dụng thuốc ức chế bơm proton kéo dài, đặc biệt khi có kèm các yếu tố nguy cơ phối hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Lê Thanh Hải, Trần Việt Tú, Phạm Ngọc Hùng. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính hoạt động. Tạp chí Y học Thực hành, 2013, 6 (874): 62-65.
[2] Phan Trung Nam, Nguyễn Thị Huyền Thương. Mối liên quan giữa teo niêm mạc dạ dày trên nội soi theo phân loại Kimura-Takemoto với đặc điểm mô bệnh học ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn có Helicobacter pylori. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2023, 13 (1): 84-89. doi: 10.34071/jmp.2023.1.12
[3] Toyoshima O, Yamaji Y, Yoshida S et al. Endoscopic gastric atrophy is strongly associated with gastric cancer development after Helicobacter pylori eradication. Surg Endosc, 2017, 31 (5): 2140-2148. doi: 10.1007/s00464-016-5211-4
[4] Bạch Thái Dương, Trần Thị Nỡ, Nguyễn Tiến Đạt và cộng sự. Khảo sát hình ảnh nội soi và tình hình nhiễm Helicobacter pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ dày-tá tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, (56): 37-44. doi: 10.58490/ctump.2023i56.497
[5] Nguyễn Hồng Ngọc, Đặng Phương Chi Bùi, Văn Mai Đỗ. Tình hình sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI). Tạp chí Y học Cộng đồng, 2021, 62 (1): 62-67.
[6] Genta R.M, Rindi G, Fiocca R et al. Effects of 6-12 months of Esomeprazole treatment on the gastric mucosa. Am J Gastroenterol, 2003, 98 (6): 1257-65. doi: 10.1111/j.1572-0241.2003.07489.x
[7] Tulassay Z, Stolte M, Engstrand L et al. Twelve-month endoscopic and histological analysis following proton-pump inhibitor-based triple therapy in Helicobacter pylori-positive patients with gastric ulcers. Scand J Gastroenterol, 2010, 45 (9): 1048-58. doi: 10.3109/00365520903575737.
[8] Nguyễn Phan Hải Sâm và cộng sự. Đặc điểm dịch vị cơ sở trên bệnh nhân viêm và loét dạ dày không do nhiễm Helicobacter pylori tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2022 (4): 68-74.