ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ HIỆN MẮC BỆNH ĐẾN HIỆU NĂNG CHẨN ĐOÁN CỦA HỆ THỐNG XÉT NGHIỆM HPV iPonatic mPOCT

Nguyễn Tuấn Anh1,2, Nguyễn Thị Trúc Quyên3, Nguyễn Thị Thảo Vy1,2, Hà Mạnh Tuấn2,4
1 Trung tâm Đào tạo và Chẩn đoán Y Sinh học phân tử
2 Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2
3 Bệnh viện Hùng Vương
4 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu năng chẩn đoán của hệ thống xét nghiệm phân tử tại chỗ iPonatic mPOCT trong phát hiện HPV so với multiplex real-time PCR, đồng thời phân tích ảnh hưởng của các mức tỷ lệ hiện mắc khác nhau đến giá trị dự đoán của xét nghiệm.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu chẩn đoán cắt ngang được thực hiện trên 294 mẫu dịch cổ tử cung của phụ nữ đến khám phụ khoa. Tất cả mẫu được xét nghiệm đồng thời bằng hệ thống iPonatic mPOCT và multiplex real-time PCR (phương pháp tham chiếu). Các chỉ số hiệu năng chẩn đoán bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, tỷ số khả dĩ dương, tỷ số khả dĩ âm, giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính và độ chính xác được tính toán kèm khoảng tin cậy 95%. Giá trị dự đoán dương tính và giá trị dự đoán âm tính được mô hình hóa theo 3 mức tỷ lệ hiện mắc giả định: 13,6%; 16,5% và 18,82%.


Kết quả: Hệ thống iPonatic đạt độ nhạy 88,6% (95% CI: 75,4-96,2) và độ đặc hiệu 99,2% (95% CI: 97,1-99,9) khi phân tích trên 294 mẫu. Tỷ số khả dĩ dương đạt 110,8 (95% CI: 27,8-442,4) và tỷ số khả dĩ âm đạt 0,11 (95% CI: 0,05-0,26). Khi tỷ lệ hiện mắc tăng từ 13,6% lên 18,82%, giá trị dự đoán dương tính tăng từ 94,6% lên 96,3%, trong khi giá trị dự đoán âm tính giảm nhẹ từ 98,2% xuống 97,4%. Độ chính xác chung của xét nghiệm dao động từ 97,2-97,8%.


Kết luận: Hệ thống iPonatic mPOCT cho thấy độ đặc hiệu rất cao và độ nhạy ở mức tốt khi so sánh với multiplex real-time PCR trong phát hiện HPV. Hiệu năng dự đoán của xét nghiệm chịu ảnh hưởng bởi tỷ lệ hiện mắc của bệnh trong quần thể. iPonatic có tiềm năng ứng dụng trong thực hành lâm sàng, đặc biệt tại các cơ sở y tế có nguồn lực hạn chế hoặc trong bối cảnh tỷ lệ hiện mắc HPV ở mức trung bình đến cao.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bray F et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 2024, 74 (3): 229-263. doi: 10.3322/caac.21834.
[2] Nguyễn Hữu Huy và cộng sự. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV và sự phân bố các type HPV ở bệnh nhân khám phụ khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2021, 25 (1): 270-274.
[3] Nguyễn Thu Hằng và cộng sự. Khảo sát tình hình nhiễm Human papillomavirus và sự phân bố các type nguy cơ cao ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2025, 50 (1): 46-52. doi: 10.56535/jmpm.v50i1.944
[4] Pham A.H.T et al. Prevalence of high-risk HPV infection in community women at Ho Chi Minh city in 2024: a cross-sectional study with self-collect sampling. Int J Womens Health, 2025, 17: 1673-1679. doi: 10.2147/IJWH.S519586.
[5] Pham Q.D et al. Prevalence and risk factors for human papillomavirus infection among female sex workers in Hanoi and Ho Chi Minh city, Vietnam: a cross-sectional study. Western Pac Surveill Response J, 2022, 13 (4): 1-11. doi: 10.5365/wpsar.2022.13.4.894.
[6] Altman D.G, Bland J.M. Diagnostic tests 2: predictive values. BMJ, 1994, 309 (6947): 102. doi: 10.1136/bmj.309.6947.102.
[7] Akobeng A.K. Understanding diagnostic tests 2: likelihood ratios, pre- and post-test probabilities and their use in clinical practice. Acta Paediatr, 2007, 96 (4): 487-491. doi: 10.1111/j.1651-2227.2006.00179.x.
[8] Phạm Hoàng Anh và cộng sự. Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm HPV mRNA E6/E7 và phết tế bào cổ tử cung trong sàng lọc ung thư cổ tử cung. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (CĐ22): 50-55. doi: 10.52163/yhc.v66iCD22.3766
[9] Ma C et al. Wang. Portable, and ultrasensitive HR-HPV tests based on nucleic acid biosensors. Frontiers in Cellular and Infection Microbiology, 2024, 14: