SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở NHÓM BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 CÓ VÀ KHÔNG CÓ ALBUMIN NIỆU
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa hai nhóm bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có albumin niệu và bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 181 bệnh nhân đái tháo đường type 2 (eGFR < 60 mL/phút/1,73m²) tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2. Các chỉ số đánh giá bao gồm đặc điểm lâm sàng, bilan lipid máu, eGFR, UACR, homocysteine, chỉ số viêm miễn dịch hệ thống (SII) và chỉ số dinh dưỡng (PNI).
Kết quả: Tỉ lệ bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu chiếm 35%. Nhóm bệnh thận đái tháo đường có albumin niệu có tuổi trung bình thấp hơn (65,2 so với 67,9 tuổi, p = 0,0401), nữ giới ưu thế (64,4% so với 47,6%, p = 0,029), và huyết áp kém kiểm soát hơn (huyết áp tâm thu 144,6 mmHg so với 134,9 mmHg, p = 0,011). Nhóm bệnh thận đái tháo đường không albumin niệu có eGFR tốt hơn (43,7 mL/phút/1,73 m² so với 33,6 mL/phút/1,73 m², p < 0,001), albumin máu cao hơn (4,3 g/dL so với 4,1 g/dL, p = 0,0002), SII thấp hơn (464,6 so với 574,2, p = 0,0145), và PNI cao hơn (56,5 so với 53,1, p = 0,0001). Không có sự khác biệt về BMI, thời gian đái tháo đường, kiểm soát đường huyết (glucose máu lúc đói, HbA1c) và homocysteine giữa hai nhóm.
Kết luận: Bệnh thận đái tháo đường biểu hiện qua nhiều kiểu hình với đặc tính sinh học, tình trạng viêm và dinh dưỡng khác biệt. Việc chỉ dựa vào UACR là không đủ để sàng lọc và phân tầng nguy cơ. Các chỉ số SII và PNI là những công cụ tiềm năng giúp nhận diện kiểu hình và định hướng chiến lược điều trị cá thể hóa.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Bệnh thận do đái tháo đường, bệnh thận do đái tháo đường không albumin niệu (NADKD), bệnh thận do đái tháo đường có albumin niệu (ADKD).
Tài liệu tham khảo
[2] Li H, Wang J, Zhang T, Lou P, Xu L, Ma L. Epidemiological trend in diabetic kidney disease (DKD) burden in China from 1990 to 2021, and projections for 2041: an analysis of the global burden of disease study 2021. BMC Public Health, 2025, 25 (1): 3381.
[3] Scilletta S, Di Marco M, Miano N, Filippello A, Di Mauro S, Scamporrino A et al. Update on diabetic kidney disease (DKD): focus on non-albuminuric DKD and cardiovascular risk. Biomolecules, 2023, 13 (5): 752. doi: 10.3390/biom13050752
[4] Agius S.M, Mangion J, Fava S. Diabetic kidney disease phenotype and other determinants of cardiovascular and renal outcomes in type 2 diabetes. Diabetology, 2026, 7 (1): 4.
[5] Thomas M.C, MacIsaac R.J, Jerums G, Weekes A, Moran J, Shaw J.E, Atkins R.C. Nonalbuminuric renal impairment in type 2 diabetic patients and in the general population (national evaluation of the frequency of renal impairment cO-existing with NIDDM [NEFRON] 11). Diabetes Care, 2009, 32 (8): 1497-502.
[6] Shi S, Ni L, Gao L, Wu X. Comparison of nonalbuminuric and albuminuric diabetic kidney disease among patients with type 2 diabetes: a systematic review and meta-analysis. Frontiers in Endocrinology, 2022, Volume 13.
[7] Ghose S, Satariano M, Korada S, Cahill T, Shah R, Raina R. Advancements in diabetic kidney disease management: integrating innovative therapies and targeted drug development. American Journal of Physiology-Endocrinology and Metabolism, 2024, 326 (6): E791-E806.
[8] Kataoka-Yahiro M, Davis J, Gandhi K, Rhee C.M, Page V. Asian Americans & chronic kidney disease in a nationally representative cohort. BMC Nephrol, 2019, 20 (1): 10.
[9] D’Marco L, Guerra-Torres X, Viejo I, Lopez-Romero L, Yugueros A, Bermídez V. Non-albuminuric diabetic kidney disease phenotype: beyond albuminuria. touchREV Endocrinol, 2022, 18 (2): 102-5. doi: 10.17925/EE.2022.18.2.102.
[10] Kaygusuz Y, Özbek D.A, Erdut A, Abanoz R, Korkut M.G, Özdede M et al. Urinary biomarker profiles define divergent pathways in albuminuric and non-albuminuric diabetic kidney disease. Kidney Diseases, 2026. doi: 10.1159/000550855