ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN NẤM MÓNG DO CANDIDA TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Quý Trọng Quang1, Vũ Huy Lượng2, Nguyễn Thị Mai Hương1, Lê Trần Khánh Vy3, Trần Cẩm Vân4
1 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên
2 Bệnh viện Da liễu Trung ương
3 Trường Phổ thông liên cấp Vinschool The Harmony
4 Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia, Bộ Y tế

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nấm móng do Candida.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 76 bệnh nhân được chẩn đoán nấm móng, khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong thời gian từ tháng 1-7 năm 2025. Các đặc điểm dịch tễ học, hành vi liên quan, bệnh lý nền và biểu hiện lâm sàng được thu thập và phân tích. Việc phân lập và định danh Candida được tiến hành theo quy trình xét nghiệm thường quy. Mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng và mức độ tổn thương móng được đánh giá bằng các phép kiểm thống kê thích hợp.


Kết quả: Trong tổng số 76 bệnh nhân nấm móng, có 39 trường hợp được xác định nhiễm Candida, chiếm 51,32%. Bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới (69,23%) và ở nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi (66,67%). Tỷ lệ bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn cao hơn so với khu vực thành thị. Nấm móng do Candida thường liên quan đến các hành vi vệ sinh bàn tay và bàn chân chưa phù hợp, đặc biệt là thói quen thường xuyên tiếp xúc với nước và chất tẩy rửa. Phân tích cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa thời gian mắc bệnh, hành vi sử dụng chất tẩy rửa không phù hợp và tình trạng đái tháo đường với số lượng móng bị tổn thương. Đồng thời, thời gian mắc bệnh có liên quan đáng kể đến sự xuất hiện các triệu chứng cơ năng như ngứa, đau và biểu hiện viêm quanh móng.


Kết luận: Thời gian mắc bệnh và tình trạng đái tháo đường có liên quan đến mức độ lan rộng tổn thương móng ở bệnh nhân nấm móng do Candida. Ngoài ra, thời gian mắc bệnh còn ảnh hưởng đến các biểu hiện lâm sàng như ngứa, đau và viêm quanh móng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Baran R, Haneke E et al. Onychomycosis: the current approach to diagnosis and therapy, 1st Edition. CRC Press, 1999.
[2] Trần Cẩm Vân, Nguyễn Hữu Sáu. Tỉ lệ mắc bệnh và một số yếu tố liên quan của bệnh nấm nông trên các bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong giai đoạn 2017-2019. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 535 (1B): 155-158. doi: 10.51298/vmj.v535i1B.8411.
[3] Nguyễn Đức Thắng và cộng sự. Tình hình bệnh nấm móng ở người dân các tỉnh Nam Bộ năm 2024. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (CĐ3): 74-78.
[4] Kaur R, Kashyap B et al. Onychomycosis-epidemiology, diagnosis and management. Indian journal of medical microbiology, 2008, 26 (2), 108-116.
[5] Elewski B.E. Onychomycosis: pathogenesis, diagnosis, and management. Clinical Microbiology Reviews, 1998, 11 (3): 415-429.
[6] Piraccini B.M, Alessandrini A. Onychomycosis: a review. Journal of Fungi, 2015, 1 (1): 30-43.
[7] Gupta A.K, Versteeg et al. Onychomycosis in the 21st century: an update on diagnosis, epidemiology, and treatment. Journal of cutaneous medicine and surgery, 2017, 21 (6): 525-539.
[8] Đỗ Thị Thu Hiền và cộng sự. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của nấm móng với các chủng nấm gây bệnh. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2024, 19 (3): 53-59. doi: 10.52389/ydls.v19i3.2206.
[9] Gupta A.K, Shemer A et al. Diabetic foot and fungal infections: etiology and management from a dermatologic perspective. Journal of Fungi, 2024, 10 (8): 577.