THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NẤM Ở DA CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận (tóc, móng) của các bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025, mô tả một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh nấm ở da và cơ quan phụ cận ở đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành trên 394 bệnh nhân có tổn thương lâm sàng nghi nhiễm nấm da tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng năm 2025 từ tháng 10/2025 đến tháng 12/2025.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận là 64%. Nam nhiễm nấm cao hơn nữ (58,7% so với 41,3%). Nhóm tuổi nhiễm nấm chiếm tỷ lệ cao nhất là 20 - 39 tuổi với 32,5%. Nhóm nghề nghiệp khác có tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất chiếm 42,9%. Khảo sát các yếu tố liên quan cho thấy, người có cơ địa da dầu; người có tình trạng tăng tiết mồ hôi có nguy cơ nhiễm nấm cao gấp 2,2 lần và 1,67 lần so với các đối tượng khác. Các yếu tố hành vi và môi trường như dùng chung quần áo, nuôi chó mèo làm tăng nguy cơ nhiễm nấm khoảng 1,8 lần. Những bệnh nhân có tiếp xúc trực tiếp hoặc trong gia đình có người mắc nấm da có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn 2,2 lần so với nhóm không có yếu tố này.
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận cao (64%), gặp chủ yếu ở nam, nhóm tuổi 20–39 và nhóm nghề nghiệp khác. Cơ địa da dầu, tăng tiết mồ hôi, tiếp xúc gần với người bệnh, thói quen sử dụng chung đồ dùng cá nhân và việc nuôi thú cưng là những yếu tố liên quan làm gia tăng nguy cơ nhiễm nấm ở da và các cơ quan phụ cận.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Nấm da, bệnh nấm da.
Tài liệu tham khảo
[2] Nguyễn Thị Huyền Sương, Võ Thị Thanh Hiền, Đinh Thị Thanh Mai và cộng sự. (2022). Nghiên cứu tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình. Tạp chí Khoa học sức khỏe, Số 515(2), Trang.193-200.
[3] Ton N.P.A., Ngo T.M.C., Nguyen T.H. và cộng sự. (2012). Studied the cutaneous fungal disease of attending patients at parasitology laboratory, Hue University hospital. J Med Pharm, Trang.76-85.
[4] Bộ Y Tế (2025). Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Vi sinh, Quyết định số 2633/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn, tập 1, quy trình 211, trang 1115-1118.
[5] Nguyễn Thị Huyền Sương (2024), Thực trạng nhiễm nấm da và thành phần loài ở bệnh nhân đến khám da liễu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2023, Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật xét nghiệm y học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
[6] Đỗ Thị Mỹ Hạnh, Hồ Hoàng Anh, và Lê Phúc Trường Tân (2024). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm da tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ. Tạp Chí Dược Học Cần Thơ, Số 75, Trang.64-71.
[7] Phạm Văn Tuấn, Bùi Thị Vân, Vũ Hoàng Nhung và cộng sự. (2021). Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh nấm da thân tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh. J 108 - Clin Med Phamarcy, Số 16 (1), Trang. 43-47.
[8] Ebrahimi M., Zarrinfar H., Naseri A. và cộng sự. (2019). Epidemiology of dermatophytosis in northeastern Iran; A subtropical region. Curr Med Mycol, Vol 5(2), pp.16-21.
[9] Châu Văn Trở và Lê Huỳnh Phúc (2020). Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh nhân nấm da do vi nấm sợi tại Bệnh viện Da liễu tỉnh Bình Thuận năm 2019. J 108 - Clin Med Phamarcy.
[10] Hiruma J., Ogawa Y., và Hiruma M. (2015). Trichophyton tonsurans infection in Japan: epidemiology, clinical features, diagnosis and infection control. J Dermatol, Vol.42(3), pp.245-249.