ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHU VỰC KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tại khu vực Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, số ca mắc gia tăng rõ rệt trong giai đoạn 2021–2024, cho thấy nguy cơ bùng phát dịch vẫn còn hiện hữu. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá đáp ứng miễn dịch sốt rét của cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, góp phần phản ánh mức độ phơi nhiễm với ký sinh trùng và hỗ trợ xây dựng các biện pháp phòng chống phù hợp.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ người dân có kháng thể kháng sốt rét bằng phương pháp ELISA và một số yếu tố liên quan tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai xã Tây Khánh Vĩnh và Nam Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa vào tháng 8 năm 2025, 1.364 người dân được lấy mẫu huyết thanh để xét nghiệm ELISA.
Kết quả: Trong tổng số 1.364 mẫu huyết thanh được xét nghiệm, phát hiện 544 trường hợp có kháng thể kháng sốt rét (39,9%). Tỷ lệ ELISA dương tính ở nam (40,2%) tương đương với nữ (39,7%). Tỷ lệ ELISA dương tính thấp nhất ghi nhận ở nhóm dưới 15 tuổi (7,9%) và tăng dần ở nhóm trên 15 đến dưới 30 tuổi (39,4%); 52,7% ở nhóm trên 30 đến dưới 45 tuổi và cao nhất ở nhóm trên 45 tuổi (71%). Đối tượng nghiên cứu có tiền sử mắc sốt rét có tỷ lệ ELISA dương tính là 68%, cao hơn rõ rệt so với nhóm không có tiền sử mắc sốt rét (35,8%).
Kết luận: Tỷ lệ đối tượng có kháng thể kháng Plasmodium spp. trong quần thể nghiên cứu vẫn ở mức tương đối cao (39,9%), cần có các biện pháp truyền thông và phòng chống sốt rét cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong cộng đồng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Sốt rét, đáp ứng miễn dịch, ELISA, Khánh Hòa.
Tài liệu tham khảo
[2] World malaria report 2024.
[3] Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng trung ương, 2025, Báo cáo tổng kết công tác năm 2024, phương hướng hoạt động năm 2025.
[4] Folegatti P.M., Siqueira A.M., Monteiro W.M. et al., (2017). A systematic review on malaria sero-epidemiology studies in the Brazilian Amazon: insights into immunological markers for exposure and protection. Malar J, 16(1), 107.
[5] Corran P., Coleman P., Riley E. et al., (2007). Serology: a robust indicator of malaria transmission intensity?. Trends in Parasitology, 23(12), 575–582.
[6] Stewart L., Gosling R., Griffin J. et al., (2009). Rapid Assessment of Malaria Transmission Using Age-Specific Sero-Conversion Rates. PLOS ONE, 4(6), e6083.
[7] Erhart A., Thang N.D., Hung N.Q. et al., (2004). Forest malaria in Vietnam: a challenge for control. Am J Trop Med Hyg, 70(2), 110–118.
[8] Thang N.D., Erhart A., Speybroeck N. et al., (2008). Malaria in central Vietnam: analysis of risk factors by multivariate analysis and classification tree models. Malar J, 7(1), 28.
[9] San N.N., Kien N.X., Manh N.D. et al., (2022). Cross-sectional study of asymptomatic malaria and seroepidemiological surveillance of seven districts in Gia Lai province, Vietnam. Malar J, 21(1), 40.
[10] Population mobility and malaria.
[11] Maude R.J., Ngo T.D., Tran D.T. et al., (2021). Risk factors for malaria in high incidence areas of Viet Nam: a case–control study. Malar J, 20(1), 373.