THỰC TRẠNG VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ BỆNH LANG BEN Ở NGƯỜI BỆNH TẠI TRUNG TÂM DA LIỄU HẢI PHÒNG NĂM 2025

Nguyễn Thị Huyền Sương1, Vũ Văn Thái2, Võ Thị Thanh Hiền2, Bùi Thị Hồng Ánh2, Đỗ Thị Ngọc2
1 (1) Trường Đại học Y dược Hải Phòng
2 Trường Đại học Y dược Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm nấm lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng năm 2025. Và mô tả kiến thức, thực hành về bệnh lang ben của đối tượng nghiên cứu.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 288 bệnh nhân tại Trung tâm Da liễu Hải Phòng. Dữ liệu được thu thập qua khám lâm sàng, xét nghiệm nấm trực tiếp bằng dung dịch KOH 10% để chẩn đoán nấm lang ben, cùng với phỏng vấn KAP.


Kết quả: Tỷ lệ bệnh lang ben của các bệnh nhân có thương tổn lâm sàng đến khám tại Trung tâm da liễu Hải Phòng là 35,8%. Bệnh lang ben cao nhất ở nhóm trẻ em < 10 tuổi và nhóm tuổi lao động 20-39 tuổi (cùng chiếm 27,2%). Về kiến thức: 69,7% đối tượng nghiên cứu biết về tác nhân gây bệnh và 94,2% nhận biết triệu chứng của bệnh là ngứa, tuy nhiên các triệu chứng khác của bệnh (ngứa tăng khi đổ mồ hôi: 23,2%; thay đổi sắc tố/vị trí: 48,5%) còn thấp; kiến thức về phòng ngừa đạt 64,7%, trong đó kiến thức về việc không mặc chung quần áo chiếm ưu thế (97,5%). Về thực hành: 40,7% đối tượng nghiên cứu vẫn mặc chung quần áo và chỉ 8,3% duy trì tắm sau khi tập thể dục, tỷ lệ sử dụng xà phòng khi tắm đạt 78,4%.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1]. Parys J, et al. (2025), Pityriasis versicolor: insight into current knowledge and treatment Possibilities, J Educ Health Sport.
[2]. Duy Nguyen B, et al. (2020), Epidemiological characterization of pityriasis versicolor and distribution of Malassezia species among students in Hai Phong city, Vietnam, Curr Med Mycol, Vol.6(2):pp.11-17
[3]. Trần Cẩm Vân, Nguyễn Hữu Sáu (2024), Tỉ lệ mắc bệnh và một số yếu tố liên quan của bệnh nấm nông trên các bệnh nhân đến khám tại bệnh viện da liễu trung ương trong giai đoạn 2017-2019, Tạp chí Y học Việt Nam, Số.535(1B); tr.155-158.
[4]. Phạm Diệu Hoa, Cẩm Vân Trần, Hữu Sáu Nguyễn (2024), Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh lang ben tại Bệnh viện da liễu Trung ương, Tạp chí Y học Việt Nam, Số.536(1); tr.247- 250.
[5]. Nguyễn Hồ Phương Liên, Nguyễn Thị Bích Thảo, Lê Thị Chinh, Nguyễn Thanh Liêm, và Trần Thị Huệ Vân (2024), Khảo sát tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia spp trên bệnh nhân mắc bệnh về da đến khám tại bệnh việ da liễu TP.HCM và các yếu tố liên quan”. Tạp Chí Y học Cộng đồng; Số.65 (CĐ12-Bệnh viện Thủ Đức). Tr.302- 306
[6]. Trần Cẩm Vân, Nguyễn Hữu Sáu (2024), Nhiễm nấm nông ở tổn thương da của bệnh nhân vảy nến tại Bệnh viện da liễu Trung ương, Tạp Chí Y học Việt Nam; Số.535(1B); tr.44-47.
[7]. Hajra, syeda. (2023), A Single Centre Demographic and Clinico-Epidemiological Profile of Pityriasis Versicolor in Adults: A Cross-Sectional Study, Bangladesh Journal of Medical Science, doi:10.3329/BJMS.V23I1.70707.
[8]. Khamdan, M & SP.KK, Yuri & M.Si, Dr & Sp.KK(K), (2023), Evy. Impacts of Clinical and Demographical Aspects on the Duration of Pytiriasis Versicolor. Berkala Ilmu Kesehatan Kulit dan Kelamin, Vol.35.pp.107-115. 10.20473/bikk.V35.107-115
[9]. Tilaye, Mengistu & Sinknew, Abebe & Mekuriaw, Alemneh & Tsehay, Asmamaw. (2023). Magnitude and associated factors of Pityriasis Versicolor among patients attending Dermatovenereology Outpatient Department at the University of Gondar Comprehensive Specialized Hospital, Northwest Ethiopia, Journal of Current Health Sciences,Vol.3,pp.31-38. 10.47679/jchs.202346.
[10]. Singla, Pooja et al. Epidemiological, clinical and mycological characteristics of pityriasis versicolor: Results of a study from a teaching hospital in rural part of Northern India, Journal of family medicine and primary care, Vol.11(9):pp.5236-5240. doi:10.4103/jfmpc.jfmpc_2317_21