VIÊM NÃO TỰ MIỄN KHÁNG AMPAR KÈM BỆNH NHƯỢC CƠ VÀ U TUYẾN ỨC: CA LÂM SÀNG ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Viêm não tự miễn có kháng thể tấn công thụ thể alpha-amino-3-hydroxy-5-methyl-4-isoxazolepropionic acid (AMPA) là một thể hiếm của viêm não tự miễn. Chúng tôi mô tả những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của một trường hợp viêm não tự miễn kháng thụ thể AMPA đi kèm với bệnh nhược cơ (MG) và u tuyến ức đầu tiên tại Việt Nam. Bệnh nhân nữ 42 tuổi với tiền căn bệnh nhược cơ, nhập viện với các triệu chứng điển hình của viêm não hệ hiền bao gồm giảm trí nhớ và lú lẫn. Kháng thể kháng thụ thể AMPA được phát hiện trong cả huyết thanh và dịch não tuỷ bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Cắt lớp vi tính (CT scan) lồng ngực ghi nhận một khối trung thất trước. Bệnh nhân được điều trị bằng Methylprednisolone liều cao và thay huyết tương 5 chu kỳ. Bệnh nhân cải thiện ý thức trong thời gian ngắn và được lên kế hoạch cắt bỏ khối ở trung thất trước và làm mô bệnh học nhưng do nguy cơ phẫu thuật cao nên không được thực hiện.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Viêm não tự miễn, thụ thể AMPA, u tuyến ức, bệnh nhược cơ.
Tài liệu tham khảo
2. Guasp, M., et al., Thymoma and Autoimmune Encephalitis. Neurology Neuroimmunology, 2021. 8(5): p. e1053. doi: 10.1212/NXI.0000000000001053
3. Tannemaat, M.R., M.G. Huijbers, and J. Verschuuren, Myasthenia gravis-Pathophysiology, diagnosis, and treatment. Handb Clin Neurol, 2024. 200: p. 283–305. doi: 10.1016/B978-0-12-823912-4.00026-8
4. Lai, M., et al., AMPA receptor antibodies in limbic encephalitis alter synaptic receptor location. Ann Neurol, 2009. 65(4): p. 424–34. doi: 10.1002/ana.21589.
5. Byun, J.I., et al., Prevalence of antineuronal antibodies in patients with encephalopathy of unknown etiology: Data from a nationwide registry in Korea. J Neuroimmunol, 2016. 293: p. 34–38. doi: 10.1016/j.jneuroim.2016.02.002
6. Höftberger, R., et al., Encephalitis and AMPA receptor antibodies: Novel findings in a case series of 22 patients. Neurology, 2015. 84(24): p. 2403–12. doi: 10.1212/WNL.0000000000001682
7. Graus, F., et al., A clinical approach to diagnosis of autoimmune encephalitis. Lancet Neurol, 2016. 15(4): p. 391–404. doi: 10.1016/S1474-4422(15)00401-9
8. Evoli, A. and E. Lancaster, Paraneoplastic disorders in thymoma patients. J Thorac Oncol, 2014. 9(9 Suppl 2): p. S143–7. doi: 10.1097/JTO.0000000000000300
9. Omi, T., et al., Clinical Relapse of Anti-AMPAR Encephalitis Associated with Recurrence of Thymoma. Intern Med, 2018. 57(7): p. 1011–1013. doi: 10.2169/internalmedicine.9682-17
10. Tan, S., et al., Anti-α-Amino-3-Hydroxy-5-Methyl-4-Isoxazolepropionic Acid (AMPA) Receptor Antibody Encephalitis in an Immunosuppressed Patient With Myasthenia Gravis Post-thymoma Treatment. Cureus, 2024. 16(6): p. e63239. doi: 10.7759/cureus.63239.
11. Dalmau, J. and A. Vincent, Do we need to measure specific antibodies in patients with limbic encephalitis? Neurology, 2017. 88(6): p. 508–509. doi: 10.1212/WNL.0000000000003592
12. Laurido-Soto, O., et al., Patient characteristics and outcome associations in AMPA receptor encephalitis. J Neurol, 2019. 266(2): p. 450–460. doi: 10.1007/s00415-018-9153-8.
13. Panzer, J.A. and R.C. Dale, Anti-AMPA receptor encephalitis: The family of glutamatergic autoencephalitides further expands. Neurology, 2015. 84(24): p. 2390–1. doi: 10.1212/WNL.0000000000001693