TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶT ỐNG THÔNG TIỂU Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT SỌ NÃO TẠI TRUNG TÂM GÂY MÊ HỒI SỨC, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Trần Thị Quỳnh Nga1, Vũ Văn Khâm1, Đoàn Thu Huyền1, Nguyễn Giáp Việt Dũng1, Đinh Thị Lan1
1 Trung tâm Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Bạch Mai

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát thực trạng nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đến đặt ống thông tiểu ở người bệnh sau phẫu thuật sọ não và nhận xét một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Gây mê hồi sức, Bệnh viện Bạch Mai.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 242 bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não có lưu ống thông tiểu ≥ 48 giờ từ tháng 4/2022-3/2023. Chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu dựa trên tiêu chuẩn CDC 2014. Các yếu tố liên quan được phân tích bằng phần mềm SPSS.


Kết quả: Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu là 9,1% với tần suất 6,8 ca/1000 ngày lưu ống thông tiểu. Nấm Candida là tác nhân chủ yếu (66,7%). Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu ở nữ (24,6%) cao hơn nam (12,8%) với p = 0,03. Nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian lưu ống thông tiểu ≥ 10 ngày và thời gian nằm hồi sức ≥ 10 ngày (p < 0,05). 91,7% bệnh nhân có nhiễm khuẩn tiết niệu nhưng nước tiểu vẫn trong tại thời điểm cấy.


Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đến ống thông tiểu ở bệnh nhân phẫu thuật sọ não khá cao và triệu chứng lâm sàng mờ nhạt. Việc rút ngắn thời gian lưu ống thông và tăng cường kiểm soát nấm cơ hội là các giải pháp then chốt để giảm thiểu nguy cơ này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Vũ Văn Khâm và cộng sự. Tình trạng nhiễm trùng tiết niệu ở người bệnh có đặt ống thông tiểu sau phẫu thuật sọ não. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Bệnh viện Bạch Mai, 2023.
[2] Bộ Y tế. Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đến đặt ống thông tiểu trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Ban hành theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế), Hà Nội, 2017.
[3] Lê Thị Huệ. Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu ở người bệnh hồi sức thở máy đặt thông tiểu. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[4] CDC. Guidelines for prevention of catheter-associated urinary tract infections, 2014.
[5] Bùi Trúc Loan, Nguyễn Thị Thúy Vinh và cộng sự. Kiến thức của điều dưỡng về phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan đến ống thông tiểu và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hữu Nghị năm 2023. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2024, 65 (4): 95-100. doi: 10.52163/yhc.v65i4.1201.
[6] Puri J, B Mishra et al. Catheter associated urinary tract infections in neurology and neurosurgical units. J Infect, 2002, 44 (3): 171-175. doi: 10.1053/jinf.2002.0968.
[7] Tambyah P.A, Maki D.G. Catheter-associated urinary tract infection is rarely symptomatic: a prospective study of 1,497 catheterized patients. Arch Intern Med, 2000, 160 (5): 678-682. doi: 10.1001/archinte.160.5.678.
[8] Podkovik S, Toor H et al. Prevalence of CAUTI in neurosurgical intensive care patients - The overdiagnosis of urinary tract infections. Cureus, 2019, 11 (8): e5494. doi: 10.7759/cureus.5494.
[9] Singh S et al. Candida tropicalis: An emerging pathogen in CAUTI. J Med Microbiol, 2021.
[10] Nicole E Sunderland. Reducing CAUTI in the neurocritical care unit through rapid implementation of the evidence. Sigma, 2025.