KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐÓNG ỐNG ĐỘNG MẠCH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NỘI KHOA Ở TRẺ SINH NON DƯỚI 34 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng phương pháp nội khoa ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024-2025.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 190 bệnh nhi sinh non dưới 34 tuần thai, được chẩn đoán còn ống động mạch, điều trị tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương. Thu thập và phân tích các dữ liệu về nhân khẩu học, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị và các yếu tố liên quan.
Kết quả: Tỉ lệ nam/nữ là 1,5/1. Nhóm tuổi 28-32 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (57,9%). Trẻ có cân nặng thấp dưới 1500g chiếm 74,7%. Tuổi điều trị hay gặp nhất là 3-7 ngày tuổi (60%). Tỷ lệ đóng ống động mạch sau 3 và 6 ngày điều trị lần lượt là 43,2% và 71,6%. Tỷ lệ đóng ống động mạch ở nhóm dùng Ibuprofen cao hơn Paracetamol (82,8% so với 66,7%; p = 0,035). Tỷ lệ đóng ống động mạch sau điều trị tăng theo tuổi thai, nhóm dưới 28 tuần có tỷ lệ đóng ống sau 3 ngày và 6 ngày lần lượt là 29,2% và 60%, ở nhóm 32-34 tuần đạt 66,7% và 80%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Dùng Corticoid trước sinh có tỷ lệ đóng ống sau 6 ngày cao hơn so với nhóm không dùng (77,8% so với 64,8%) (p = 0,048).
Kết luận: Còn ống động mạch thường gặp ở nhóm trẻ dưới 32 tuần với cân nặng sơ sinh thấp. Điều trị đóng động mạch bằng nội khoa (Ibuprofen, Paracetamol) mang lại hiệu quả tốt, giảm các biến chứng của còn ống động mạch gây ra.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Trẻ sơ sinh, đẻ non, ống động mạch.
Tài liệu tham khảo
[2] Đào Công Hùng, Phạm Văn Đếm. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị trẻ sơ sinh đẻ non điều trị bằng thắt ống động mạch tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (3): 315-318. doi: 10.51298/vmj.v539i3.10137.
[3] Trần Thị Hải Yến, Trần Thảo Trang, Đinh Dương Tùng Anh. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đóng ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2021-2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 526 (2): 140-145. doi: 10.51298/vmj.v526i2.5529.
[4] Nguyễn Thị Thu Hà. Nghiên cứu hiệu quả của Ibuprofen đường uống trong điều trị còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng suy hô hấp. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2011.
[5] Gupta S et al. Trial of selective early treatment of patent ductus arteriosus with Ibuprofen. N Engl J Med, 2024, 390: 314-325. doi: 10.1056/NEJMoa2305582.
[6] Nguyễn Thị Tâm, Trương Lệ Thi, Lê Thị Hải Vân. Kết quả điều trị đóng ống động mạch bằng Ibuprofen ở trẻ sinh non tại Khoa Hồi sức cấp cứu sơ sinh, Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2024. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (CĐ 6): 140-144. doi: 10.52163/yhc.v66iCD6.2291
[7] Dani C et al. Intravenous Paracetamol in comparison with Ibuprofen for the treatment of patent ductus arteriosus in preterm infants: a randomized controlled trial. Eur J Pediatr, 2021, 180: 807-816. doi: 10.1007/s00431-020-03780-8.
[8] Kong X, Xu F et al. Antenatal corticosteroids administration on mortality and morbidity in premature twins born at 25-34 gestational weeks: a retrospective multicenter study. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol, 2020, 253: 259-265, doi: 10.1016/j.ejogrb.2020.08.003.