ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ VI KHUẨN HỌC Ở CÁC BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP NHIỄM KHUẨN ĐIỀU TRỊ TẠI THÁI NGUYÊN

Hoàng Hồng Thắm1, Lưu Thị Bình2, Lê Phong Thu1, Vũ Quỳnh Trang3
1 Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên
2 Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên
3 Bệnh viện đa khoa Hùng Vương Phú Thọ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và vi khuẩn học ở các bệnh nhân viêm khớp nhiễm khuẩn điều trị nội trú tại khoa Cơ xương khớp bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên và khoa Nội cơ xương khớp bệnh viện A Thái Nguyên giai đoạn 2022-2025.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 104 bệnh nhân viêm khớp nhiễm khuẩn điều trị nội trú tại khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên và khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện A Thái Nguyên từ 4/2022-6/2025.


Kết quả: Tuổi trung bình 61,9 ± 11,6 tuổi, nam giới chiếm 75,0%. Đường vào hay gặp nhất là sau tiêm tại chỗ vào khớp chiếm 31,7%. Bệnh nhân có sốt chiếm 76,0 %. Nhiễm khuẩn tại các khớp chi dưới là hay gặp nhất chiếm 73,1%, trong đó khớp gối chiếm tỷ lệ cao nhất 59,2% tại các khớp chi dưới. Bệnh nhân có đau kiểu viêm chiếm 100%. Sưng, nóng, đỏ khớp chiếm 96,2%. Có 76,9% bệnh nhân tăng số lượng bạch cầu trong máu, 100% bệnh nhân có tăng tốc độ máu lắng sau 1 giờ. X-quang khớp: 38,5% bệnh nhân có hình ảnh tổn thương. Siêu âm khớp: 99,0% bệnh nhân có tràn dịch khớp, dày màng hoạt dịch. Xét nghiệm dịch khớp: 100% bệnh nhân có tăng bạch cầu, trong đó 56,5% bệnh nhân có số lượng bạch cầu dịch khớp ≥ 50000 tế bào/mm3. Bệnh nhân có nhuộm soi dịch khớp dương tính chiếm 30,8%. Có 46,2% bệnh nhân có nuôi cấy dịch khớp dương tính, trong đó MRSA (tụ cầu vàng kháng methicillin) chiếm 50%.


Kết luận: Viêm khớp nhiễm khuẩn thường gặp ở nam giới, tuổi cao. Sau tiêm tại chỗ vào khớp là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất. Lâm sàng thường biểu hiện viêm khớp rõ, hay gặp ở các khớp chi dưới, đặc biệt là khớp gối. Cận lâm sàng các dấu ấn viêm thường tăng. MRSA là căn nguyên phổ biến nhất. Chẩn đoán xác định dựa vào xét nghiệm dịch khớp kết hợp với lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Lưu Thị Bình, Trần Thị Lan (2017), " Nhận xét 13 trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn điều trị tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", TNU Journal of Science Technology pp. 3-8.
[2] Nguyễn Thị Hương, Trần Huyền Trang, Nguyễn Văn Hùng (2021), "Nhận xét tình trạng nhiễm khuẩn khớp và phần mềm cạnh khớp tại Khoa Cơ Xương Khớp-Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2020-2021", Tạp chí Y học Việt Nam. 506.
[3] Nguyễn Thị Ngọc Lan, Lê Thị Hải Hà, Phùng Văn Anh Đức, Bùi Hải Bình (2023), "Đặc điểm bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú tại trung tâm cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai năm 2021", Tạp chí Y học Việt Nam 526, pp. 14-22.
[4] Hoàng Anh Phú, Phạm Hoài Thu (2025), " Thực trạng viêm khớp nhiễm khuẩn điều trị tại khoa cơ xương khớp -Bệnh viện Đại học Y Hà Nội", Tạp chí Y học Việt Nam. 549, pp. 279-285.
[5] Hoàng Thị Phương Thảo (2025), "Thực trạng nhiễm khuẩn cơ xương khớp và kết quả điều trị tại Trung tâm cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2021-2022", Tạp chí Y học Việt Nam. 549, pp. 271-278.
[6] Wang, Jian and Wang, Liucai (2021), "Novel therapeutic interventions towards improved management of septic arthritis", BMC Musculoskeletal Disorders. 22(1), p. 530.
[7] Lipatov, K. V., et al. (2022), "Septic arthritis of the hand: Current issues of etiology, pathogenesis, diagnosis, treatment", World J Orthop. 13(7), pp. 622-630.
[8] Newman, J. H. (1976), "Review of septic arthritis throughout the antibiotic era", Ann Rheum Dis. 35(3), pp. 198-205.