TỶ LỆ, CƯỜNG ĐỘ NHIỄM MỘT SỐ LOÀI GIUN, SÁN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI HAI TỈNH KON TUM VÀ ĐẮK NÔNG, NĂM 2024

Trần Bình Trọng1, Lý Chanh Ty1, Nguyễn Hữu Giáo1, Nguyễn Thị Thanh Trầm1, Nguyễn Thị Dung1, Nguyễn Hà Vi1
1 Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhiễm một số bệnh giun sán chiếm tỷ lệ cao, bên cạnh nhóm giun truyền qua đất, một số giun sán truyền từ động vật sang người như sán lá gan lớn, sán lá nhỏ, sán dây bò…, được ghi nhận mắc nhiều tại một số địa phương, vì vậy đòi hỏi có một điều tra tổng thể để xác định tỷ lệ nhiễm các loài giun sán trong cộng đồng tại một số điểm có nguy cơ cao.


Mục tiêu: Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trên người tại các điểm nghiên cứu bằng kỹ thuật xét nghiệm phân Kato - Kazt.


Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang mô.


Kết quả: Tỷ lệ nhiễm chung các loài giun, sán: Tại xã Đăk Môn 44,31%, xã Đăk Kroong 27,14%, xã Đắk Búk So 8,45%, xã Quảng Tâm 5,45%. Cường độ nhiễm nhóm giun truyền qua đất: Giun móc/mỏ 47,46 trứng/gram phân (huyện Đăk Glei: 79,4; huyện Tuy Đức 12,08), giun tóc: 1,50 (1,90; 1,01), giun đũa: 1,13 (1,50; 0,71). Cường độ nhiễm sán lá nhỏ tại xã Đăk Môn: 171,76 trứng/gram phân, xã Đăk Kroong: 23,38, xã Đắk Búk So: 3,1 trứng/gram phân.


Kết luận: Đã xác định được tỷ lệ, cường độ nhiễm một số loài giun sán trong cộng đồng dân cư tại hai xã Đăk Môn, Đăk Kroong (Đăk Glei) và xã Đắk Búk So, Quảng Tâm (Tuy Đức).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Quyết định 1744/QĐ-BYT ngày 30/3/2021 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh ký sinh trùng thường găp tại Việt Nam
[2] Nguyễn Thị Dung (2023), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm sán dây bò ở người tại xã Đăk Môn, huyện Đăk Glei, tỉnh kon Tum, Tạp chí Y Dược Huế - Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế - Số đặc biệt, tháng 4/2024.
[3] Viện Sốt rét - KST - CT Quy Nhơn (2023), Báo cáo Tổng kết công tác phòng chống và loại trừ sốt rét và các bệnh KST khu vực miền Trung - Tây Nguyên, năm 2023.
[4] Yu Sen-Hai, Masanori Kawanaka, Li Xu-Ming, Xu Long-Qi, Lang Chung-Geng and Ling-Rui (2003), Epidemiological investigation on Clonorchis sinensis in Human population in an Area of South China. Jpn. J. Infect. Dis., 56, 168-171, 2003.
[5] Trần Bình Trọng và cộng sự (2023), Điều tra tỷ lệ, cường độ nhiễm giun truyền qua đất ở một số vùng có nguy cơ cao tại tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Gia Lai, năm 2023, Tạp chí Y Dược Huế - Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế - Số đặc biệt, tháng 4/2024, tr. 31-37.
[6] Thân Trọng Quang (2018), Tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Buôn Triết, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk năm 2018, Kỷ yếu Hội nghị Ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 46, tr. 24-30
[7] Báo cáo Hội thảo công tác phòng chống một số bệnh lây truyền từ ĐVSN 2021-2024 và kế hoạch 2025-2030, tổ chức tại Quy Nhơn tháng 12/2024.
[8] Lê Thành Đồng, Đoàn Bình Minh (2017), Tỷ lệ và cường độ nhiễm một số loài giun truyền qua đất ở khu vực phía Nam và Lâm Đồng, Kỷ yếu Hội nghị Ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 46 (2018), trang 119-126.
[9] Phạm Thị Hà Trang và các cộng sự (2024), Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini trên người tại xã Mỹ An, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (2018-2019), Tạp chí Y học Việt Nam. 538.