ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA THAI PHỤ CÓ KHÂU VÒNG CỔ TỬ CUNG DỰ PHÒNG SẢY THAI, SINH NON TẠI BỆNH VIỆN NAM HỌC VÀ HIẾM MUỘN HÀ NỘI

Hoàng Văn Khanh1, Vũ Thị Hồng Anh2, Phạm Bá Nha3
1 Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội
2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên
3 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thai phụ có khâu vòng cổ tử cung dự phòng sảy thai, sinh non tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội từ tháng 1-12 năm 2024.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 thai phụ được khâu vòng cổ tử cung tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội từ tháng 1-12 năm 2024. Đối tượng nghiên cứu được khai thác thông tin về đặc điểm chung, tiền sử sản khoa, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng để ghi nhận các chỉ số nghiên cứu.


Kết quả: Tuổi trung bình chung của nhóm thai phụ là 31,51 ± 4,96 (22-45 tuổi). Có 55,2% thai phụ có tiền sử sảy thai trước 22 tuần, 64,8% có tiền sử sinh non một lần. Tỷ lệ sản phụ có tiền sử mổ lấy thai là 14,3% và có khâu vòng cổ tử cung trước đó là 29,5%. Về phương pháp thụ thai, 51,4% thụ thai bằng thụ tinh trong ống nghiệm, 44,8% thụ thai tự nhiên và 3,8% thụ thai bằng thụ tinh nhân tạo. Đa số trường hợp có cổ tử cung kín khi khâu (98,1%). Tuổi thai trung bình lúc khâu là 13,72 ± 1,29 tuần (12-16 tuần). Về cận lâm sàng, 3,8% sản phụ có bất thường hình thái tử cung (tử cung đôi, tử cung hai sừng, tử cung vách ngăn). Chiều dài cổ tử cung trước khâu trung bình là 31,30 ± 4,64 mm (16,8-45,2 mm), trong đó 94,3% có cổ tử cung dài trên 25 mm.


Kết luận: Các sản phụ được khâu vòng cổ tử cung dự phòng chủ yếu là những người có tiền sử sảy thai hoặc sinh non. Hầu hết được can thiệp ở tuổi thai từ 12-16 tuần, khi cổ tử cung còn kín và có chiều dài trên 25 mm trên siêu âm. Những đặc điểm này định hướng chỉ định và thời điểm khâu vòng cổ tử cung trong thực hành lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Shennan A et al. FIGO good practice recommendations on cervical cerclage for prevention of preterm birth. International Journal of Gynaecology and Obstetrics, 2021, 155 (1): 19-22. doi: 10.1002/ijgo.13835.
[2] van der Krogt L et al. The role of cervical cerclage in preventing preterm birth. European Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology, 2025: 311: 114060. doi: 10.1016/j.ejogrb.2025.114060.
[3] Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Sản phụ khoa - Từ bằng chứng đến thực hành. Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh thành phố Hồ Chí Minh (HOSREM) và Hội Phụ Sản Việt Nam (VAGO) phối hợp xuất bản năm 2020.
[4] Jaworowski A et al. Pregnancy outcomes following history-and ultrasound-indicated cervical cerclage: a 10-year retrospective cohort study from a tertiary center. Menopause Review/Przegląd Menopauzalny, 2025, 24 (2): 113-119. doi: 10.5114/pm.2025.152085.
[5] Nguyễn Thị Ngọc Thủy và cộng sự. Đánh giá hiệu quả khâu vòng cổ tử cung trong điều trị dự phòng sinh non cho các thai phụ có tiền sử sảy thai, sinh non tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2011-2012. Tạp chí Phụ Sản, 2014, 12 (2). doi: 10.46755/vjog.2014.2.929.
[6] RCOG. Cervical stitch, 2022. https://www.rcog.org.uk/for-the-public/browse-our-patient-information/cervical-stitch/
[7] Brown R et al. No. 373-Cervical insufficiency and cervical cerclage. Journal of Obstetrics and Gynaecology Canada, 2019, 41 (2): 233-247. doi: 10.1016/j.jogc.2018.08.009.
[8] Tăng Xuân Hải và cộng sự. Đánh giá kết quả khâu vòng cổ tử cung trong điều trị dự phòng sảy thai và sinh non tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An. Tạp chí Y học cộng đồng, 2022, 64 (2): 17-22. doi: 10.52163/yhc.v64i2.605
[9] ACOG Practice Bulletin No.142: Cerclage for the management of cervical insufficiency. Obstetrics and Gynecology, 2014, 123 (2 Pt 1): 372-379. doi: 10.1097/01.AOG.0000443276.68274.cc.
[10] Story L. Cervical cerclage: An evolving evidence base. BJOG, 2024, 131 (12): 1579-1586. doi: 10.1111/1471-0528.17905.
[11] Ni X et al. Efficacy of late cervical cerclage for preventing preterm birth in pregnancies complicated by cervical incompetence: retrospective cohort study. BMC Pregnancy and Childbirth, 2025, 25 (1): 310. doi: 10.1186/s12884-025-07432-3.