TÌNH TRẠNG PHẢN VỆ TẠI TRUNG TÂM DỊ ỨNG - MIỄN DỊCH LÂM SÀNG, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2024-2025

Bùi Văn Khánh1, Thái Nguyễn Hoàng1, Nguyễn Hoàng Phương1, Cao Thị Trinh1, Nhữ Đình Hiệp2, Lý Văn Phường2, Nguyễn Minh Hoàng1
1 Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai
2 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân nghi ngờ và tình hình xử trí ban đầu của phản vệ tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai năm 2024-2025.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 325 người bệnh phản vệ, điều trị nội trú tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 1/7/2024 đến 30/6/2025. Các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, nơi khởi phát triệu chứng, đối tượng và biện pháp xử trí ban đầu, mức độ phản vệ, nguyên nhân nghi ngờ, triệu chứng khởi phát và một số xét nghiệm cận lâm sàng được thu thập và phân tích bằng thống kê mô tả.


Kết quả: Nữ giới chiếm 66,8%, tuổi trung bình 41,39 ± 17,42. Phản vệ chủ yếu khởi phát tại nhà (57,5%) và đa số trường hợp được xử trí ban đầu bởi nhân viên y tế (98,2%) tại các cơ sở y tế khác nhau. Phản vệ độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (55,4%). Nguyên nhân phản vệ chủ yếu chưa xác định được (91,4%). Triệu chứng khởi phát thường gặp nhất là biểu hiện da-niêm mạc (83,1%), tiếp theo là triệu chứng hô hấp (53,2%); các biểu hiện tiêu hóa và tuần hoàn gặp với tỷ lệ thấp hơn. Tỷ lệ tăng IgE toàn phần 34,8%; suy thận5,5%; tăng CRP 24,5%.


Kết luận: Phản vệ tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai chủ yếu khởi phát ngoài cơ sở y tế và thường ở mức độ trung bình. Mặc dù người bệnh đã có ý thức tìm đến cơ sở y tế khi xảy ra phản vệ và việc xử trí ban đầu nhìn chung phù hợp với phác đồ, tỷ lệ phản vệ chưa xác định được nguyên nhân còn rất cao, phản ánh hạn chế trong khai thác tiền sử phơi nhiễm và hiểu biết của người bệnh. Việc tăng cường giáo dục sức khỏe, chuẩn hóa theo dõi sau phản vệ và xác định dị nguyên là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và dự phòng tái phát.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Chaaban M.R, Warren Z, Baillargeon J.G et al. Epidemiology and trends of anaphylaxis in the United States, 2004-2016. Int Forum Allergy Rhinol, 2019, 9 (6): 607-614. doi: 10.1002/alr.22293.
[2] Jahnz-Rozyk K, Raciborski F, Śliwczyński A.M et al. Anaphylaxis in Poland: the epidemiology and direct costs. Postepy Dermatol Alergol, 2017, 34 (6): 573-579. doi: 10.5114/pdia.2017.70361.
[3] Lee M.H, Roh E.J, Jung Y.M et al. Characteristics of anaphylaxis patients who visited emergency departments in Korea: Results from a national emergency department information system. PloS One, 2022, 17 (4): e0266712. doi: 10.1371/journal.pone.0266712.
[4] Simons F.E.R, Ardusso L.R.F, Bilò M.B et al. World allergy organization guidelines for the assessment and management of anaphylaxis. World Allergy Organ J, 2011, 4 (2): 13-37. doi: 10.1097/WOX.0b013e318211496c.
[5] Nguyễn Thị Thùy Ninh. Nghiên cứu tình trạng sốc phản vệ ở Bệnh viện Bạch Mai. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014.
[6] Thái Nguyễn Hoàng. Nghiên cứu tình trạng phản vệ tại Bệnh viện Bạch Mai. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[7] De Martinis M, Sirufo M.M, Suppa M et al. Sex and gender aspects for patient stratification in allergy prevention and treatment. Int J Mol Sci, 2020, 21 (4): 1535. doi: 10.3390/ijms21041535.
[8] Salvati L, Vitiello G, Parronchi P. Gender differences in anaphylaxis. Curr Opin Allergy Clin Immunol, 2019, 19 (5): 417-424. doi: 10.1097/ACI.0000000000000568.
[9] Turner P.J, Jerschow E, Umasunthar T et al. Fatal anaphylaxis: mortality rate and risk factors. J Allergy Clin Immunol Pract, 2017, 5 (5): 1169-1178. doi: 10.1016/j.jaip.2017.06.031.
[10] Nduwimana M.J, Liu S.W, Goldberg E.M et al. Characteristics and outcomes of anaphylaxis in emergency department visits among older adults. J Allergy Clin Immunol Pract, 2025, 13 (8): 2014-2024.e4. doi: 10.1016/j.jaip.2025.04.023.
[11] Cardona V, Ansotegui I.J, Ebisawa M et al. World allergy organization anaphylaxis guidance 2020. World Allergy Organ J, 2020, 13 (10): 100472. doi: 10.1016/j.waojou.2020.100472.
[12] Shaker M.S, Wallace D.V, Golden D.B.K et al. Anaphylaxis-a 2020 practice parameter update, systematic review, and grading of recommendations, assessment, development and evaluation (GRADE) analysis. J Allergy Clin Immunol, 2020, 145 (4): 1082-1123. doi: 10.1016/j.jaci.2020.01.017.
[13] Le M, Gabrielli S, Clarke A et al. Emergency management of anaphylaxis due to an unknown trigger: an 8-year follow-up study in Canada. J Allergy Clin Immunol Pract, 2019, 7 (4): 1166-1173.e1. doi: 10.1016/j.jaip.2018.11.015.
[14] Muraro A, Roberts G, Worm M et al. Anaphylaxis: guidelines from the European Academy of Allergy and Clinical Immunology. Allergy, 2014, 69 (8): 1026-1045. doi: 10.1111/all.12437.