KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ PHÒNG BỆNH SỎI ĐƯỜNG TIẾT NIỆU CỦA NGƯỜI DÂN ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh sỏi đường tiết niệu của người dân đến khám, điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Thủ Đức năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và thu thập số liệu bằng phỏng vấn qua bộ câu hỏi được kiểm định (Cronbach’s Alpha=0,84) trên 400 người dân từ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị ngoại trú bệnh viện đa khoa Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả: Kiến thức chung về phòng bệnh sỏi tiết niệu của người bệnh đạt 35,5% và tỷ lệ không đạt chiếm 64,5%; 29,0% người bệnh đạt thực hành đúng trong phòng bệnh sỏi tiết niệu và tỷ lệ không đạt chiếm 71,0%. Nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố liên quan đến kiến thức đúng như tình trạng hôn nhân (OR=2,6; KTC95%: 1,29-5,04; p=0,009), trình độ học vấn (OR=2,73; KTC95%: 1,23-4,91; p=0,006). Một số yếu tố liên quan đến thực hành đúng như giới tính (OR=5,04; KTC95%: 3,0-8,46; p=0,03), tình trạng hôn nhân (OR=2,22; KTC95%: 1,16-4,26; p=0,01) và lý do đến khám bệnh (OR=1,89; KTC95%: 1,08-3,42; p=0,03).
Kết luận: Tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng về phòng bệnh sỏi đường tiết niệu của đối tượng còn thấp. Tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe về kiến thức đúng, thực hành đúng phòng bệnh sỏi tiết niệu cho người dân như lồng ghép tư vấn phòng bệnh sỏi trong quy trình khám thận–tiết niệu và sử dụng tài liệu hình ảnh, video ngắn tại phòng chờ khám bệnh.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Sỏi tiết niệu, kiến thức, thực hành.
Tài liệu tham khảo
[2] Nguyễn Thị Thu Thảo, Nguyễn Thị Sơn, Nguyễn Thị Thuỷ (2024). Kiến thức và thực hành về phòng ngừa sỏi tái phát ở người bệnh sau phẫu thuật tán sỏi đường tiết niệu tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí nghiên cứu Y học. Số 185, tháng 12 năm 2024. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v185i12.2835
[3] European Association of Urology. Urolithiasis - EAU Guidelines. Arnhem: EAU; 2025 tại https://uroweb.org/guidelines/urolithiasis (Truy cập ngày 05/11/2025).
[4] Đỗ Anh Toàn (2024). Gánh nặng sỏi tiết niệu thế giới và Việt Nam. Bệnh viện Bình dân.
[5]. Dong Lv, L. Tang, Y. Chen, R. Wang, L. Liu, N. Jian, T. Zhang, and T. Shen,“Knowledge, attitudes, and practices towards urinary system stones among the Chengdu population,” Scientific Reports, vol. 14, no. 1, p. 11303, 2024. doi: 10.1038/s41598-024-60227-y
[6]. Siti Noorkhairina Sowtali, Siti Roshaidai Mohd Arifin, Nor Syawanidamia Nazli et al “Knowledge, awareness and dietary practice on urolithiasis among general population in Kuantan, Pahang, Malaysia: Preliminary findings. Journal of Public Health Research 2021; 10:2238”. https://doi.org/10.18203/2394-6040.ijcmph20192808
[7] Phạm Thị Hằng (2023). Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Bệnh viện đa khoa Nam Định năm 2020. Tạp chí Y học Việt Nam. Tập 527(2). DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v527i2.5895
[8] Nguyễn Thị Thuý Nga (2022). Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Trung tâm y tế huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam. Tập 527(1), tháng 6 năm 2023. DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v527i1.5685
[9] Nguyễn Thị Ngọc (2016). Nghiên cứu tình hình mắc sỏi hệ tiết niệu ở người trưởng thành tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Huế.
[10] Hồ Thị Mỹ Lang, Nguyễn Minh Hiệp, Lê Thị Kim Định (2023). Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh sau phẫu thuật sỏi tiết niệu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Y dược, Đại học Cần Thơ. Số 60 năm 2023. DOI: 10.58490/ctump.2023i60.449
[11] Y.-C. Wang, S.-C. Wu, and C.-P. Huang (2023). Lifestyle and diet as risk factors for urinary stone formation: A study in a Taiwanese population. Medicina. 59(10), p. 1895. DOI: 10.3390/medicina59101895