ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ LO ÂU, TRẦM CẢM, SUY DINH DƯỠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ

Trần Thị Táo1, Lê Thị Vương2, Bùi Thị Phương Anh3, Hoàng Thị Bạch Yến1, Nguyễn Thị Thanh Nhàn1, Nguyễn Thị Bảy4
1 Khoa Dinh dưỡng - Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
2 Khoa Ung bướu, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
3 Khoa Dinh dưỡng - Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế -
4 Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá lo âu, trầm cảm, suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư.


Đối tượng và phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 118 bệnh nhân ung thư đang điều trị tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá dựa vào Global Leadership Initiative on Malnutrition (GLIM) và thang đo Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) được sử dụng để đánh giá lo âu, trầm cảm.


Kết quả: Trong 118 bệnh nhân, có 32,2% bệnh nhân được đánh giá có suy dinh dưỡng dựa vào GLIM; 9,3% thực sự lo âu và 16,1% thực sự trầm cảm dựa vào HADS. Đáng chú ý, trầm cảm được tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng suy dinh dưỡng (OR = 4,255; 95% CI = 1,527-11,855).


Kết luận: Suy dinh dưỡng và lo âu, trầm cảm là những vấn đề sức khỏe phổ biến ở bệnh nhân ung thư, và có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu nhấn mạnh việc sàng lọc dinh dưỡng cần phải kết hợp với việc đánh giá sức khỏe tâm thần ngay từ giai đoạn chẩn đoán. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bray F et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin 2024, 74 (3): 229-263.
[2] Pham T et al. Cancers in Vietnam - Burden and control efforts: a narrative scoping review. Cancer control 2019, 26 (1): 1073274819863802.
[3] Dương Ngọc Lê Mai và cộng sự. Trầm cảm, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, năm 2019. Tạp chí Nghiên cứu Y học 2020, 125 (1): 136-143.
[4] Soria-Utrilla V et al. Prevalence of anxiety and depression symptoms and their relationship with nutritional status and mortality in patients with colorectal cancer. Int J Environ Res Public Health 2022, 19 (20): 13548. doi: 10.3390/ijerph192013548.
[5] Zhu C et al. Prevalence and relationship of malnutrition and distress in patients with cancer using questionnaires. BMC Cancer 2018, 18 (1): 1272. doi: 10.1186/s12885-018-5176-x.
[6] Koo J.R et al. Association of depression with malnutrition in chronic hemodialysis patients. Am J Kidney Dis 2003, 41 (5): 1037-1042.
[7] Zhang K.P et al. Global Leadership Initiative on Malnutrition criteria as a nutrition assessment tool for patients with cancer. Nutrition 2021, 91-92: 111379.
[8] Phạm Nữ Nguyệt Quế và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân sa sút trí tuệ điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 507 (2): 18-23. doi: 10.51298/vmj.v507i2.1392.
[9] Song H.N et al. Effect of GLIM-defined malnutrition on postoperative clinical outcomes in patients with colorectal cancer. J Clin Oncol 2022, 52 (5): 466-474.
[10] Snaith R.P. The hospital anxiety and depression scale. Health Qual Life Outcomes, 2003, 1 (1): 29.
[11] Nguyễn Thị Bích Ngọc và cộng sự. Công cụ HADS tầm soát rối loạn lo âu trong chăm sóc ban đầu: kết quả phân tích nhân tố khám phá. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (1): 326-331. doi: 10.51298/vmj.v539i1.9756.
[12] Vũ Hồng Vân. Tỉ lệ bị rối loạn lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính do thoái hóa cột sống. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 505 (1): 43-45. doi: 10.51298/vmj.v505i1.1012.
[13] Grassi L et al. Anxiety and depression in adult cancer patients: ESMO Clinical Practice Guideline. ESMO Open 2023, 8 (2): 101155. doi: 10.1016/j.esmoop.2023.101155.
[14] Trần Thị Thu Hà và cộng sự. Thực trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư vú điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 515 (2): 276-279. doi: 10.51298/vmj.v515i2.2807.
[15] Võ Thị Kim Anh và cộng sự. Thực trạng trầm cảm, lo âu của người mắc bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân y 175, năm 2019. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 514 (2): 81-85. doi: 10.51298/vmj.v514i2.2600.
[16] Nguyễn Văn Trang và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Thanh Nhàn và Bệnh viện Vinmec Times City. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 505 (2): 262-267. doi: 10.51298/vmj.v505i2.1140.
[17] La Văn Phú và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa trước phẫu thuật theo BMI và SGA tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 538 (1): 197-202. doi: 10.51298/vmj.v538i1.9401.
[18] Nguyễn Duy Đông, Nguyễn Thị Thúy An. Tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật của bệnh nhân ung thư ống tiêu hóa theo tiêu chuẩn GLIM tại Bệnh viện Quân y 103. Tạp chí Y Dược học quân sự, 2025, 50: 72-81. doi: 10.56535/jmpm.v50i2.1043.
[19] O’Connor J et al. Criterion validity of the global leadership initiative on malnutrition criteria for malnutrition diagnosis compared with the Subjective Global Assessment: Results from a large observational study. Nutr Diet 2025, 82 (2): 163-171. doi: 10.1111/1747-0080.12917.
[20] Chabowski M et al. Is nutritional status associated with the level of anxiety, depression and pain in patients with lung cancer? J Thorac Dis 2018, 10 (4): 2303-2310. doi: 10.21037/jtd.2018.03.108.