TĂNG CÂN THAI KỲ, BMI TRƯỚC MANG THAI VÀ NGUY CƠ SINH CON ≥ 4 KG: TỔNG QUAN TƯỜNG THUẬT

Trần Danh Trường1, Phan Thanh Tài2, Nguyễn Kim Vượng2
1 Trường Đại Học Võ Trường Toản
2 Bệnh Viện Đại Học Võ Trường Toản

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Tổng hợp bằng chứng giai đoạn 2010–2025 về mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể trước mang thai (BMI) và tăng cân thai kỳ (gestational weight gain – GWG) với nguy cơ thai to (macrosomia; cân nặng sơ sinh ≥4.000 g) và trẻ lớn hơn tuổi thai (large-for-gestational-age – LGA; > bách phân vị 90 theo tuổi thai và giới), đồng thời xem xét tính phù hợp của ngưỡng BMI châu Á và tóm lược dữ liệu Việt Nam. Phương pháp: Tổng quan tường thuật, ưu tiên tổng quan hệ thống/phân tích gộp, nghiên cứu đoàn hệ và hướng dẫn lâm sàng có ước lượng định lượng. GWG được phân loại dưới/đúng/vượt so với khuyến nghị Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) 2009 theo từng nhóm BMI. Kết quả: Thừa cân/béo phì trước mang thai liên quan nhất quán với tăng nguy cơ macrosomia và LGA; một số đoàn hệ ghi nhận mỗi tăng 1 kg/m² BMI làm tăng nguy cơ macrosomia khoảng 13–24%. Các phân tích gộp cho thấy GWG vượt ngưỡng IOM làm tăng nguy cơ macrosomia (OR≈1,95) và LGA (OR≈1,85) so với tăng cân trong phạm vi khuyến nghị; ví dụ BMI bình thường nên tăng 11,5–16 kg. Ngưỡng BMI châu Á (thừa cân ≥23,0; béo phì ≥27,5 kg/m²) có thể phân tầng nguy cơ tốt hơn trong bối cảnh châu Á. Dữ liệu Việt Nam chủ yếu từ báo cáo bệnh viện, cho thấy tỷ lệ trẻ ≥4.000 g đáng kể nhưng còn không đồng nhất định nghĩa kết cục và mức độ hiệu chỉnh yếu tố nhiễu.
Kết luận: BMI trước mang thai cao và GWG quá mức là yếu tố nguy cơ nhất quán, có thể can thiệp; cần tối ưu cân nặng trước thụ thai, tư vấn GWG theo IOM với cân nhắc ngưỡng BMI châu Á và kiểm soát đường huyết (đặc biệt ở đái tháo đường thai kỳ) để giảm macrosomia/LGA.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Wu Y, Xiao H, Chen L, Qin J, Wang T. Pre-pregnancy body mass index and risk of macrosomia: glycemic status-specific thresholds and subgroup interactions in a prospective cohort. Frontiers in Nutrition. 2025;12:1633088. DOI: 10.3389/fnut.2025.1633088
[2] Zhu Y, Wang L, Qi Q, Cheng Y, Zhu Z, et al. Associations between gestational weight gain under different guidelines and adverse birth outcomes: A secondary analysis of a randomized controlled trial in rural western China. PLOS Global Public Health. 2024;4(1):e0002691. DOI: 10.1371/journal.pgph.0002691
[3] Health Canada. Prenatal Nutrition Guidelines for Health Professionals: Gestational Weight Gain. Updated July 25, 2024.
[4] Jih J, Mukherjea A, Vittinghoff E, et al. Using appropriate body mass index cut points for overweight and obesity among Asian Americans. Preventive Medicine. 2014;65:1–6. DOI: 10.1016/j.ypmed.2014.04.010
[5] Hồ Thị Thu Hằng, Trần Thái Thanh Tâm. Đặc điểm lâm sàng và kết cục thai kì của trẻ sinh ra từ sản phụ thai to tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;549(3):371–374. DOI: 10.51298/vmj.v549i3.14016
[6] Akanmode AM, Mahdy H. Macrosomia. StatPearls [Internet]. 2025.
[7] Shi P, Liu A, Yin X. Association between gestational weight gain in women with gestational diabetes mellitus and adverse pregnancy outcomes: a retrospective cohort study. BMC Pregnancy and Childbirth. 2021;21(1):508. DOI: 10.1186/s12884-021-03982-4
[8] Harvey L, van Elburg R, van der Beek EM. Macrosomia and large for gestational age in Asia: One size does not fit all. J Obstet Gynaecol Res. 2021;47(6):1929–1945. DOI: 10.1111/jog.14787