ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MÔ HÌNH GÃY KHUNG CHẬU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HÓC MÔN TỪ THÁNG 1/2023 ĐẾN THÁNG 6/2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học, mô hình bệnh lý gãy khung chậu và phân tích nhu cầu can thiệp phẫu thuật điều trị gãy khung chậu mất vững tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn giai đoạn từ 1/2023-6/2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu dữ liệu hồ sơ bệnh án. Các trường hợp được phân loại theo Tile và Young-Burgess. Dữ liệu thu thập gồm: tuổi, giới tính, nguyên nhân, cơ chế chấn thương, mức độ mất vững và kết quả điều trị ban đầu.
Kết quả: Trong giai đoạn nghiên cứu, có 96 trường hợp gãy khung chậu được ghi nhận, trong đó nam giới chiếm 34,4% và nữ giới chiếm 65,6%. Nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (52,1%). Gãy trật khớp cùng chậu là dạng thường gặp nhất (35,4%), kế đến là gãy xương mu (29,1%), và gãy ngành chậu hoặc thân xương chậu (20,8%). Theo phân loại Young-Burgess, chấn thương do nén ép bên là cơ chế thường gặp nhất. Các dạng gãy ổ cối, gãy xương cùng và gãy phức tạp vùng chậu ít gặp hơn. Số lượng ca gãy khung chậu có xu hướng gia tăng qua từng năm, từ 19 ca năm 2023 tăng lên 49 ca năm 2024 và 28 ca trong 6 tháng đầu năm 2025. Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán gãy khung chậu đều được chuyển tuyến trên để tiếp tục điều trị hoặc bệnh nhân xin xuất viện.
Kết luận: Gãy khung chậu thường gặp ở nữ giới trung niên và người cao tuổi và cho thấy xu hướng gia tăng trong suốt thời gian nghiên cứu. Phần lớn các trường hợp liên quan đến dạng tổn thương không ổn định, đòi hỏi phải điều trị chuyên khoa. Do dữ liệu nghiên cứu chỉ phản ánh các bệnh nhân ban đầu đến khám tại bệnh viện khu vực tuyến huyện, nên tỷ lệ mắc gãy xương chậu thực tế ở khu vực Hóc Môn có thể cao hơn. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường năng lực chẩn đoán, quản lý ban đầu và đào tạo phẫu thuật điều trị gãy xương chậu tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Gãy khung chậu, trật khớp cùng chậu, chấn thương khung chậu, gãy ổ cối.
Tài liệu tham khảo
[2] Vallier H.A, Cureton B.A et al. Early definitive stabilization of unstable pelvis and acetabulum fractures reduces morbidity. J Trauma, 2010, 69 (3): 677-684. doi: 10.1097/TA.0b013e3181e50914.
[3] Hauschild O, Strohm P.C et al. Mortality in patients with pelvic fractures: results from the German pelvic injury register. J Trauma, 2008, 64 (2): 449-455. doi: 10.1097/TA.0b013e31815982b1.
[4] Incagnoli P, Puidupin A et al. Early management of severe pelvic injury (first 24 hours). Anaesth Crit Care Pain Med, 2019, 38 (2): 199-207. doi: 10.1016/j.accpm.2018.12.003.
[5] Pereira G.J.C, Damasceno E.R et al. Epidemiology of pelvic ring fractures and injuries. Rev Bras Ortop, 2017, 52 (3): 260-269. doi: 10.1016/j.rboe.2017.05.012.
[6] Elamin M.H, Elkaramany I et al. The epidemiology of pelvic ring fractures in Qatar. Int Orthop, 2024, 48 (4): 1097-1103. doi: 10.1007/s00264-024-06103-w.
[7] Küper M.A, Trulson A et al. Pelvic ring fractures in the elderly. EFORT Open Rev, 2019, 4 (6): 313-320. doi: 10.1302/2058-5241.4.180062.
[8] Hermans E, Biert J et al. Epidemiology of pelvic ring fractures in a level 1 trauma center in the Netherlands. Hip Pelvis, 2017, 29 (4): 253-261. doi: 10.5371/hp.2017.29.4.253.
[9] de Ridder V.A, Whiting P.S et al. Pelvic ring injuries: recent advances in diagnosis and treatment. OTA Int, 2023, 6 (3 Suppl): e261. doi: 10.1097/OI9.0000000000000261.
[10] Patel M, McGwin G et al. Longer time to surgery for pelvic ring injuries is associated with increased systemic complications. J Trauma Acute Care Surg, 2025, 98 (6): 921-926. doi: 10.1097/TA.0000000000004547.