ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA TRÀN MÁU – TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI DO CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC GIAI ĐOẠN 2022-2023

Văn Đình Đạt1, Dương Đức Hùng1,2, Phạm Hữu Lư1,2
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

1.Mục tiêu: Mô tả đặc điểm chẩn đoán và điều trị ngoại khoa bệnh nhân tràn máu - tràn khí màng phổi do chấn thương ngực kín tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn 2022-2023.


2.Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu. Tất cả các bệnh nhân được xác định các chỉ tiêu nghiên cứu theo một mẫu thống nhất, chú trọng đến các tiêu chí về triệu chứng lâm sàng, X-quang lồng ngực, phương pháp phẫu thuật và kết quả ban đầu.


3.Kết quả: Phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản chấn thương ngực kín. Phẫu thuật chủ yếu là dẫn lưu màng phổi (87,6%), chỉ có 12,3% phải mở ngực. Tuổi trung bình: 48,8±14,8; nam giới: 74,9%. Nguyên nhân chủ yếu: tai nạn giao thông (53,2%). Thể bệnh chính: tràn máu - tràn khí màng phổi (75,3%), Tổn thương gãy xương sườn gặp ở hầu hết bệnh nhân (93,5%). Các tổn thương đi kèm gồm chấn thương sọ não (28,1%), chấn thương bụng kín (16,3%), chấn thương xương khớp (35%). Điều trị ngoại khoa: Dẫn lưu màng phổi chiếm 87,6% và mở ngực chiếm 12,4%.  Kết quả: Tốt (79,8%), thời gian đặt dẫn lưu trung bình là 5,2± 2,4 ngày.


4.Kết luận: Điều trị ngoại khoa bệnh nhân tràn máu – tràn khí màng phổi do chấn thương kín tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức cho kết quả sớm tốt và tỉ lệ biến chứng thấp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Đặng Hanh Đệ. Chấn thương ngực. Y học Hà Nội; 1985. 169 tr.
[2] Walia BS, Dugg P, Sharma S. Clinical Features, Management, and Outcomes of Chest Trauma at a Tertiary-Care Centre in India: A Retrospective Observational Study. Sci World J. 2021;2021(1):8052586. doi:10.1155/2021/8052586
[3] Ludwig C, Koryllos A. Management of chest trauma. J Thorac Dis. Tháng Tư 2017;9(Suppl 3):S172–7. doi:10.21037/jtd.2017.03.52
[4] Dương Văn Minh. Kết quả điều trị chấn thương ngực kèm theo chấn thương sọ não có dẫn lưu màng phổi đơn thuần tại bệnh viện hữu nghị việt đức. Tạp Chí Học Việt Nam. 16 Tháng Chạp 2021 21 Tháng Sáu 2025;507(1). doi:10.51298/vmj.v507i1.1351
[5] Nguyễn Hữu Ước, Phạm Hữu Lư, Đoàn Quốc Hưng và cộng sự. Đánh giá tình hình cấp cứu chấn thương lồng ngực tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2004 –2006. Tạp chí Y học Việt Nam. 2006;328, 402–13.
[6] Lưu Sĩ Hùng. Nghiên cứu đặc điểm của chấn thương ngực trên 129 nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đường bộ trong 2 năm 2004 -2005. Tạp chí Y học Thực Hành. 2008;614, 615, 86–9.
[7] Nguyễn Hữu Ước. Một số cấp cứu ngoại khoa hiếm gặp về tim mạch lồng ngực. Trong: Ngoại khoa. Nhà xuất bản Y học; 2002. tr 43.
[8] Đặng Ngọc Hùng và cộng sự. Một số nhận xét về đặc điểm triệu chứng, sơ cứu và cấp cứu chấn thương ngực kín qua 139 trường hợp tại bệnh viện 103. 2006;2–11.
[9] Đoàn Duy Hùng. Kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương ngực kín tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn Hà Nội giai đoạn 2012-2014. Tạp Chí Phẫu Thuật Tim Mạch Và Lồng Ngực Việt Nam. 2 Tháng Mười-Một 2020;14:3–9. doi:10.47972/vjcts.v14i.165
[10] Serife Tuba Liman, Akin Kuzucu, Abdullah Irfan Tastepe, Gulay Neslihan Ulasan, Salih Topcu, Chest injury due to blunt trauma, European Journal of Cardio-Thoracic Surgery, Volume 23, Issue 3, March 2003, Pages 374–378, https://doi.org/10.1016/s1010-7940(02)00813-8
[11] Chrysou K, Halat G, Hoksch B, Schmid RA, Kocher GJ. Lessons from a large trauma center: impact of blunt chest trauma in polytrauma patients—still a relevant problem? Scand J Trauma Resusc Emerg Med. 20 Tháng Tư 2017;25(1):42. doi:10.1186/s13049-017-0384-y