KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH NHIỄM XẠ NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KỸ THUẬT HÌNH ẢNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Mâu1, Hồ Đắc Thoàn2,3, Nguyễn Văn Trung2, Trần Quốc Cường4
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Trường Y Dược, Trường Đại học Trà Vinh
3 Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Quy Nhơn
4 Trường Đại học Cửu Long

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp của sinh viên kỹ thuật hình ảnh và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp.


Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 107 sinh viên năm 2, 3 và 4 ngành kỹ thuật hình ảnh y học đang học tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.


Kết quả: Tỷ lệ sinh viên đạt mức kiến thức, thực hành tốt về phòng chống nhiễm xạ nghề nghiệp là 57,94%, trong khi 42,06% sinh viên còn thiếu kiến thức và kỹ năng thực hành. Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố đặc điểm chung với kiến thức, thực hành phòng chống nhiễm xạ nghề nghiệp.


Kết luận: Tỷ lệ kiến thức, thực hành tốt phòng chống nhiễm xạ nghề nghiệp của sinh viên phản ánh hơn một nửa sinh viên đã có hiểu biết và khả năng vận dụng tương đối tốt về phòng chống nhiễm xạ nghề nghiệp, tuy nhiên tỷ lệ còn lại vẫn chiếm gần một nửa, cho thấy sự cần thiết phải củng cố thêm cả về nhận thức lẫn kỹ năng thực hành an toàn bức xạ. Tỷ lệ sinh viên có kiến thức và thực hành tốt cao hơn nhóm còn lại cho thấy chương trình đào tạo hiện nay đã có hiệu quả nhất định, đặc biệt trong việc trang bị kiến thức nền tảng về an toàn bức xạ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Faggioni L, Paolicchi F et al. Awareness of radiation protection and dose levels of imaging procedures among medical students, radiography students, and radiology residents at an academic hospital: Results of a comprehensive survey. European Journal of Radiology, 2017, 86: 135-142. doi: 10.1016/j.ejrad.2016.10.033.
[2] Bộ Y tế. Quyết định số 3299/QĐ-BYT về việc ban hành Tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phóng xạ, ngày 12 tháng 9 năm 2011.
[3] Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Bích Diệp. An toàn vệ sinh lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp trong các cơ sở y tế. Nhà xuất bản Lao Động, 2010.
[4] Hoàng Ngọc Liên và cộng sự. An toàn bức xạ và an toàn điện trong y tế. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 2003.
[5] National Institute for Occupational Safety and Health (NIOSH). Guidelines for protecting the safety and health of health care workers, 1988.
[6] Bộ Khoa học và Công nghệ - Bộ Y tế. Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT ngày 09 tháng 6 năm 2014 Quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế.
[7] Nguyễn Doãng Cường, Nguyễn Văn Nam, Võ Bá Tùng. Kỹ thuật X quang thông thường, tập 1. Nhà xuất bản Y học, 2008.
[8] Nguyễn Xuân Hòa. Thực trạng an toàn bức xạ, sức khỏe, bệnh tật của nhân viên y tế tiếp xúc với bức xạ ion hóa và hiệu quả một số giải pháp quen thuộc. Luận án tiến sĩ y học, Đại học Thái Nguyên, 2015.
[9] Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự. Đánh giá kiến thức về an toàn bức xạ của sinh viên kỹ thuật hình ảnh tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2025, 28 (4): 125-132. doi: 10.32895/hcjm.m.2025.04.16.