Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐÓNG ỐNG ĐỘNG MẠCH BẰNG THUỐC Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Hà Thị Lương1,2, Trần Thị Hoa1,2
1 Neonatal Center, National Hospital of Obstetrics and Gynecology
2 Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4216
34 Lượt xem
25 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ còn ống động mạch ở trẻ đẻ non và đánh giá hiệu quả đóng ống động mạch bằng thuốc ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu trên 267 trẻ sinh non dưới 32 tuần tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tất cả các trẻ đẻ non dưới 32 tuần đều được siêu âm lần đầu thường quy vào ngày thứ 3-4 sau sinh hoặc nghi ngờ còn ống động mạch. Trẻ được chia thành các nhóm đã đóng ống, còn ống động mạch không ảnh hưởng huyết động và còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động. Điều trị còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động bằng Ibuprofen hoặc Paracetamol. Đánh giá hiệu quả của hai thuốc, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trước và sau điều trị, một số biến chứng của còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động.

Kết quả: Tỷ lệ còn ống động mạch 61,4%, còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động 28,7%, cân nặng lúc sinh dưới 1000g 63,8%, tuổi thai dưới 28 tuần 55,3%, bệnh nhân được điều trị đóng ống 89,4%. Đóng ống thành công trên tổng số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc 69%. Số lượt điều trị thành công bằng Paracatamol 54,2% và Ibuprofen 64%. Giảm các triệu chứng lâm sàng rõ rệt sau điều trị, kích thước ống trước điều trị 2,73 ± 0,65 mm sau điều trị còn 1,09 ± 1,22 mm và LA/Ao trước điều trị 1,87 ± 0,39 sau điều trị là 1,42 ± 0,33. Nhiễm khuẩn sơ sinh nguy cơ còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động gấp 6 lần. Nguy cơ chảy máu phổi, xuất huyết não, loạn sản phế quản phổi ở trẻ còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động so với trẻ không bị bệnh.

Kết luận: Điều trị còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động bằng Ibuprofen hoặc Paracetamol có hiệu quả ở trẻ sinh non. Điều trị làm giảm các triệu chứng lâm sàng cũng như giảm các thông số trên siêu âm. Còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động có liên quan đến việc tăng nguy cơ biến chứng nặng, vì vậy cần siêu âm tim thường quy cho trẻ sinh non đặc biệt là cực non tháng.

Tài liệu tham khảo
[1]
West Midlands Neonatal Operational Delivery Network, Bedside Clinical Guidelines Partnership. Patent ductus arteriosus. In: Neonatal guidelines 2022-2024, issue 9. Stoke-on-Trent: University Hospital of North Midlands NHS Trust, 2022, p. 309-312. Google Scholar
[2]
Conrad C, Newberry D. Understanding the pathophysiology, implications, and treatment options of patent ductus arteriosus in the neonatal population. Adv Neonatal Care, 2019, 19 (3): 179-187. doi: 10.1097/ANC.0000000000000590. Google Scholar
[3]
Lissauer T, Fanaroff A.A et al. Patent ductus arteriosus (PDA). In: Neonatology at a glance. 4th ed. Chichester (West Sussex): Wiley-Blackwell, 2020, p. 84-5. Google Scholar
[4]
Hoffman J.I.E. Patent ductus arteriosus. In: The natural and unnatural history of congenital heart disease. Oxford: Blackwell Publishing, 2009, p. 79-92. Google Scholar
[5]
Aranda J.V, Thomas R. Systematic review: intravenous ibuprofen in preterm newborns. Semin Perinatol, 2006, 30 (3): 114-120. doi: 10.1053/j.semperi.2006.04.003. Google Scholar
[6]
Dani C, Poggi C et al. Efficacy and safety of intravenous paracetamol in comparison to ibuprofen for the treatment of patent ductus arteriosus in preterm infants: study protocol for a randomized controlled trial. Trials, 2016, 17: 182. doi: 10.1186/s13063-016-1294-4. Google Scholar
[7]
Miall S, Hensey A et al. Selective early medical treatment of the patent ductus arteriosus in extremely low gestational age infants: a pilot randomised controlled trial protocol (SMART-PDA). BMJ Open, 2024, 14 (7): e087998. doi:10.1136/bmjopen-2024-087998. Google Scholar
[8]
Benitz W.E. Patent ductus arteriosus in preterm infants. Pediatrics, 2016, 137 (1): e20153730. doi: 10.1542/peds.2015-3730 Google Scholar
[9]
Huỳnh Thị Lệ, Phan Hùng Việt, Phạm Hữu Hòa. Đặc điểm lâm sàng và siêu âm Doppler tim của còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng tại Khoa Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2011, 6: 30. doi: 10.34071/jmp.2011.6.3. Google Scholar
[10]
Nguyễn Cao Minh Uyên, Nguyễn Thanh Thiện và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tồn tại ống động mạch ở trẻ sinh non ≤ 28 tuần tại Khoa Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 520 (1B): 141-147. doi: 10.51298/vmj.v520i1B.3856 Google Scholar
[11]
Abushanab D, Rouf P.A et al. Cost-effectiveness of oral versus intravenous Ibuprofen therapy in preterm infants with patent ductus arteriosus in the neonatal intensive care setting: A cohort-based study. Clin Ther, 2021, 43 (2): 336-348.e7. doi: 10.1016/j.clinthera.2020.12.004 Google Scholar
[12]
Nguyễn Phan Minh Nhật, Vũ Minh Phúc, Nguyễn Thu Tịnh. Hiệu quả đóng ống động mạch bằng Paracetamol ở trẻ sơ sinh non tháng. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2019, 23 (1): 97-103. Google Scholar
[13]
Navikienė J, Liubšys A et al. Impact of medical treatment of hemodynamically significant patent ductus arteriosus on cerebral and renal tissue oxygenation measured by near-infrared spectroscopy in very low-birth-weight infants. Medicina (Kaunas) , 2022, 58 (4): 475. doi: 10.3390/medicina58040475 Google Scholar
[14]
Liu C, Zhu X et al. Related factors of patent ductus arteriosus in preterm infants: A systematic review and meta-analysis. Front Pediatr, 2021, 8: 605879. doi: 10.3389/fped.2020.605879 Google Scholar
[15]
Su B.H, Lin H.Y et al. Therapeutic strategy of patent ductus arteriosus in extremely preterm infants. Pediatr Neonatol, 2020, 61 (2): 133-141. doi: 10.1016/j.pedneo.2019.10.002 Google Scholar