KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐÓNG ỐNG ĐỘNG MẠCH BẰNG THUỐC Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ còn ống động mạch ở trẻ đẻ non và đánh giá hiệu quả đóng ống động mạch bằng thuốc ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu trên 267 trẻ sinh non dưới 32 tuần tại Trung tâm Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tất cả các trẻ đẻ non dưới 32 tuần đều được siêu âm lần đầu thường quy vào ngày thứ 3-4 sau sinh hoặc nghi ngờ còn ống động mạch. Trẻ được chia thành các nhóm đã đóng ống, còn ống động mạch không ảnh hưởng huyết động và còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động. Điều trị còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động bằng Ibuprofen hoặc Paracetamol. Đánh giá hiệu quả của hai thuốc, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trước và sau điều trị, một số biến chứng của còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động.
Kết quả: Tỷ lệ còn ống động mạch 61,4%, còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động 28,7%, cân nặng lúc sinh dưới 1000g 63,8%, tuổi thai dưới 28 tuần 55,3%, bệnh nhân được điều trị đóng ống 89,4%. Đóng ống thành công trên tổng số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc 69%. Số lượt điều trị thành công bằng Paracatamol 54,2% và Ibuprofen 64%. Giảm các triệu chứng lâm sàng rõ rệt sau điều trị, kích thước ống trước điều trị 2,73 ± 0,65 mm sau điều trị còn 1,09 ± 1,22 mm và LA/Ao trước điều trị 1,87 ± 0,39 sau điều trị là 1,42 ± 0,33. Nhiễm khuẩn sơ sinh nguy cơ còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động gấp 6 lần. Nguy cơ chảy máu phổi, xuất huyết não, loạn sản phế quản phổi ở trẻ còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động so với trẻ không bị bệnh.
Kết luận: Điều trị còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động bằng Ibuprofen hoặc Paracetamol có hiệu quả ở trẻ sinh non. Điều trị làm giảm các triệu chứng lâm sàng cũng như giảm các thông số trên siêu âm. Còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động có liên quan đến việc tăng nguy cơ biến chứng nặng, vì vậy cần siêu âm tim thường quy cho trẻ sinh non đặc biệt là cực non tháng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Còn ống động mạch, còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động, Ibuprofen, Paracetamol, non tháng.
Tài liệu tham khảo
[2] Conrad C, Newberry D. Understanding the pathophysiology, implications, and treatment options of patent ductus arteriosus in the neonatal population. Adv Neonatal Care, 2019, 19 (3): 179-187. doi: 10.1097/ANC.0000000000000590.
[3] Lissauer T, Fanaroff A.A et al. Patent ductus arteriosus (PDA). In: Neonatology at a glance. 4th ed. Chichester (West Sussex): Wiley-Blackwell, 2020, p. 84-5.
[4] Hoffman J.I.E. Patent ductus arteriosus. In: The natural and unnatural history of congenital heart disease. Oxford: Blackwell Publishing, 2009, p. 79-92.
[5] Aranda J.V, Thomas R. Systematic review: intravenous ibuprofen in preterm newborns. Semin Perinatol, 2006, 30 (3): 114-120. doi: 10.1053/j.semperi.2006.04.003.
[6] Dani C, Poggi C et al. Efficacy and safety of intravenous paracetamol in comparison to ibuprofen for the treatment of patent ductus arteriosus in preterm infants: study protocol for a randomized controlled trial. Trials, 2016, 17: 182. doi: 10.1186/s13063-016-1294-4.
[7] Miall S, Hensey A et al. Selective early medical treatment of the patent ductus arteriosus in extremely low gestational age infants: a pilot randomised controlled trial protocol (SMART-PDA). BMJ Open, 2024, 14 (7): e087998. doi:10.1136/bmjopen-2024-087998.
[8] Benitz W.E. Patent ductus arteriosus in preterm infants. Pediatrics, 2016, 137 (1): e20153730. doi: 10.1542/peds.2015-3730
[9] Huỳnh Thị Lệ, Phan Hùng Việt, Phạm Hữu Hòa. Đặc điểm lâm sàng và siêu âm Doppler tim của còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng tại Khoa Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2011, 6: 30. doi: 10.34071/jmp.2011.6.3.
[10] Nguyễn Cao Minh Uyên, Nguyễn Thanh Thiện và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị tồn tại ống động mạch ở trẻ sinh non ≤ 28 tuần tại Khoa Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 520 (1B): 141-147. doi: 10.51298/vmj.v520i1B.3856
[11] Abushanab D, Rouf P.A et al. Cost-effectiveness of oral versus intravenous Ibuprofen therapy in preterm infants with patent ductus arteriosus in the neonatal intensive care setting: A cohort-based study. Clin Ther, 2021, 43 (2): 336-348.e7. doi: 10.1016/j.clinthera.2020.12.004
[12] Nguyễn Phan Minh Nhật, Vũ Minh Phúc, Nguyễn Thu Tịnh. Hiệu quả đóng ống động mạch bằng Paracetamol ở trẻ sơ sinh non tháng. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2019, 23 (1): 97-103.
[13] Navikienė J, Liubšys A et al. Impact of medical treatment of hemodynamically significant patent ductus arteriosus on cerebral and renal tissue oxygenation measured by near-infrared spectroscopy in very low-birth-weight infants. Medicina (Kaunas) , 2022, 58 (4): 475. doi: 10.3390/medicina58040475
[14] Liu C, Zhu X et al. Related factors of patent ductus arteriosus in preterm infants: A systematic review and meta-analysis. Front Pediatr, 2021, 8: 605879. doi: 10.3389/fped.2020.605879
[15] Su B.H, Lin H.Y et al. Therapeutic strategy of patent ductus arteriosus in extremely preterm infants. Pediatr Neonatol, 2020, 61 (2): 133-141. doi: 10.1016/j.pedneo.2019.10.002