Mục tiêu: Nhận xét, đánh kết quả điều trị phẫu thuật ở các bệnh nhân thai ngoài tử cung vỡ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Kiên Giang.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu trên 80 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là thai ngoài tử cung vỡ, được tiếp nhận, điều trị từ 01/2022 đến 12/2024.
Kết quả: Gần 1/3 trường hợp phải truyền máu, đa số truyền 2 đơn vị máu 28,75% (23/80 ca) . Mổ hở vẫn phổ biến nhưng nội soi được ưu tiên trong các ca cắt vòi đơn thuần.Phương pháp mổ hở (55%) hoặc nội soi (45%) với cắt vòi tử cung là phương pháp xử trí chính: 68,75%, Thời gian phẫu thuật với mổ hở: 34,38,9 phút và mổ nội soi: 36,510,3 phút. Biến chứng sau mổ (35/80 ca) với mổ hở (74,3%) hoặc nội soi (25,7%) đa số là đau vết mổ: 62,86%. Trung tiện sau mổ hở hoặc nội soi ≤3 ngày là 81,25%. Thời gian nằm viện sau mổ hở: 4,90,6 ngày và mổ nội soi: 4,20,8 ngày. Mặc dù thời gian phẫu thuật tương đương, nội soi cho thấy ít biến chứng hơn và thời gian phục hồi nhanh hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian nằm viện.
Kết luận: : Phẫu thuật là chỉ định bắt buộc, trong đó phẫu thuật nội soi ngày càng khẳng định vai trò quan trọng nhờ nhiều ưu điểm, song mổ hở vẫn cần thiết trong một số trường hợp đặc biệt.Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật cần cá thể hóa theo tình trạng người bệnh và điều kiện cơ sở y tế. Phát hiện sớm và xử trí kịp thời là yếu tố quyết định trong cải thiện kết quả điều trị.