Bài báo khoa học Tập 67 Số VTT

ỨNG DỤNG SIÊU ÂM DOPPLER VÀ MARKER SINH HỌC TRONG PHÁT HIỆN SỚM BỆNH THẬN MẠN

Ngô Trọng Phúc1,2, Phan Thanh Tài3,4
1 Vo Truong Toan University
2 Trường Đại học Võ Trường Toản
3 Vo Truong Toan University Hospital
4 Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Tổng hợp bằng chứng hiện hành về vai trò của siêu âm Doppler thận và các marker máu/niệu trong bổ sung cho chiến lược phát hiện sớm và phân tầng nguy cơ bệnh thận mạn (CKD) dựa trên khuyến cáo KDIGO.

Phương pháp: Tìm kiếm PubMed, Cochrane và các kho hướng dẫn lớn (01/2010–10/2025), ưu tiên các nghiên cứu từ năm 2019 trở về sau, đối với thử nghiệm ngẫu nhiên, đoàn hệ quan sát, tổng quan hệ thống và hướng dẫn đánh giá các chỉ số Doppler trong thận, đặc biệt là chỉ số kháng (RRI và các marker gồm albumin niệu (ACR), cystatin C, NGAL, KIM-1, tỷ số MCP-1/EGF, thụ thể TNF hòa tan (TNFR1/2) và suPAR liên quan đến xuất hiện, tiến triển CKD và kết cục.

Kết quả: KDIGO 2024 khuyến cáo phối hợp eGFR và albumin niệu làm nền tảng phát hiện và phân giai đoạn CKD. Trong bối cảnh đó, RRI tăng (thường ≥0,70–0,80) ở CKD và bệnh thận do đái tháo đường liên quan đến eGFR thấp, albumin niệu cao, độ cứng mạch và nguy cơ bất lợi về thận/tử vong; một số đoàn hệ cho thấy RRI có thể dự báo tiến triển CKD ngay cả ở bệnh nhân chưa có protein niệu rõ. Các marker tổn thương ống thận và viêm miễn dịch (KIM-1, NGAL, MCP-1, TNFRs, suPAR) cho thấy giá trị tăng thêm trong dự báo CKD mới mắc và tiến triển, nhưng cỡ hiệu quả, ngưỡng cắt và mức độ nhất quán đặc biệt đối với TNFRs còn khác biệt và chủ yếu dựa trên dữ liệu quan sát. Phối hợp chỉ số Doppler (RRI, dòng tĩnh mạch thận) với bộ marker và phân tầng nguy cơ KDIGO có thể cải thiện nhận diện sớm nhóm nguy cơ cao, song cần chuẩn hóa kỹ thuật đo, khoảng tham chiếu theo tuổi/đồng mắc và các thử nghiệm thực dụng đánh giá chiến lược can thiệp dựa trên biomarker.

Kết luận: Siêu âm Doppler thận đặc biệt RRI và một số marker máu/niệu có tiềm năng tăng cường sàng lọc CKD theo KDIGO dựa trên eGFR/albumin niệu, góp phần cải thiện phát hiện sớm và phân tầng nguy cơ. Các thuật toán đa phương thức tích hợp hình ảnh, marker và dữ liệu lâm sàng cần được thẩm định trong các nghiên cứu can thiệp trên thực hành thường quy.

Tài liệu tham khảo
[1]
KDIGO 2024 Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Management of Chronic Kidney Disease. Kidney Int. 2024;105(3 Suppl):S1–S150. (Executive summary/PMC). Google Scholar
[2]
Romano G, et al. Elevated intrarenal resistive index predicted faster renal function decline and mortality in non‑proteinuric CKD. Diagnostics (Basel). 2022;12(6):1400. Google Scholar
[3]
Venables HK, et al. Value of Doppler ultrasound in early detection of diabetic kidney disease: a systematic review and meta‑analysis. Egypt J Intern Med. 2020;32:22. Google Scholar
[4]
Kharsa C, et al. Association of renal resistive indices with kidney disease outcomes and mortality. BMC Nephrol. 2023;24:309. Google Scholar
[5]
Provenzano M, et al. Renal resistive index in chronic kidney disease patients: a PLoS One cohort analysis. PLoS One. 2020;15(3):e0230020. Google Scholar
[6]
De Silva PMCS, et al. Urinary biomarkers KIM‑1 and NGAL for detection of kidney disease. J Clin Med Res. 2016;8(12):899–906. Google Scholar
[7]
Lobato GR, et al. Performance of urinary KIM‑1 and NGAL to predict CKD progression and outcomes. Ren Fail. 2017;39(1):604–611. Google Scholar
[8]
Canki E, et al. Urinary biomarkers in kidney disease: current evidence and future directions. Clin Chim Acta. 2024;549:1–12. Google Scholar
[9]
Le D, et al. Plasma KIM-1, MCP-1, suPAR, TNFR-1 and TNFR-2 are associated with incident CKD in the general population. J Am Soc Nephrol. 2022;33(Suppl):1034. (abstract) Google Scholar
[10]
Zhi HJ, et al. Predictive performance of renal resistive index, semiquantitative power Doppler score, and renal venous Doppler for CKD outcomes. Ren Fail. 2023;45(1):1–10. Google Scholar