Bài báo khoa học Tập 67 Số VTT

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG PHẦN MỀM ĐƯỢC GHÉP DA TỰ THÂN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2023 – 2024

Lữ Thị Nga1,2, Trần Hoàng Anh1,2
1 Vo Truong Toan University
2 Trường Đại học Võ Trường Toản
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả lâm sàng và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân được ghép da tự thân điều trị tổn thương phần mềm tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2023 – 2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu những bệnh nhân có tổn thương phần mềm được phẫu thuật ghép da tự thân.

Kết quả: Nhóm tuổi 40–60 chiếm tỷ lệ cao nhất (47,8%), với tuổi trung bình 53,26 ±16,04. Nam giới chiếm ưu thế (58%) so với nữ (42%). Về nghề nghiệp, nông dân (34,78%) và lao động tự do (24,64%) chiếm phần lớn. Bệnh kèm theo phổ biến là tăng huyết áp (50,72%) và đái tháo đường (46,38%). Nguyên nhân tổn thương thường gặp là thiếu máu/đái tháo đường (36,23%) và tai nạn giao thông (23,19%). Vị trí cần ghép da chủ yếu ở tay và chân (94,2%), với diện tích tổn thương nhỏ, chủ yếu 0–2% và >2–5% diện tích cơ thể, trong khi tổn thương rộng (>7%) rất hiếm.

Kết luận: Hầu hết bệnh nhân nghiên cứu là nam giới tuổi 40–60, có tổn thương chủ yếu ở tay và chân với diện tích nhỏ, đi kèm các bệnh lý nền phổ biến như tăng huyết áp và đái tháo đường, phù hợp với chỉ định ghép da khu trú.

Tài liệu tham khảo
[1]
Vũ Đồng Hoàng Hạnh (2024), “Kết quả điều trị khuyết tổ chức phần mềm bằng ghép da dày toàn lớp lấy từ nếp lằn bẹn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp”, Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng, (1), tr. 25-29. Google Scholar
[2]
Phạm Minh Quân (2022), “Nghiên cứu đặc điểm tổn thương và đánh giá kết quả điều trị khuyết hổng phần mềm vùng 1/3 dưới cẳng chân và bàn chân bằng vạt da-cân trên mắt cá ngoài tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2021”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (52), tr. 45-51. Google Scholar
[3]
Wang, S. H., Chien, C. Y., Fu, C. Y., & Bokhari, F. (2024), “Evaluating the association between time to skin grafting for truncal burn patients and complications: a comparative cohort study using the National Trauma Data Bank”, International Journal of Surgery, 110(8), pp. 4581-4587. Google Scholar
[4]
Karimi H., Latifi N.-A., Mehrjerdi A. Z., Jafarnejad B., and Karimi A.-M. (2020), “Histopathological changes of organs (lungs, liver, kidney, and brain) after using two types of AgiCoat and acticoat nanosilver dressings on deep second-degree burn in rat”, Journal of Burn Care and Research, 41(1), pp. 141–150, Google Scholar
[5]
Mai Xuân Thảo, Ngô Minh Đức, Chu Anh Tuấn, Lê Quốc Chiểu (2021), “Đặc điểm bỏng người lớn và thách thức trong điều trị”, Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng, (4), tr. 19-29. Google Scholar
[6]
Trần Đoàn Đạo (2015), “Tình hình điều trị bỏng và di chứng bỏng tại bệnh viện Chợ Rấy trong 3 năm 2012 – 2014”, Tạp chí Y học thảm họa và Bỏng, 2, tr. 25-29. Google Scholar
[7]
Ortiz-Prado E., Armijos L. and Iturralde A. L. (2015), A population-based study of the epidemiology of acute adult burns in Ecuador from 2005 to 2014, Burns, 41 (3), pp. 582-589. Google Scholar
[8]
Nguyễn Dương Phi và cộng sự (2024), “Đánh giá kết quả phẫu thuật ghép da tự thân điều trị vết thương mất da và bỏng sâu ở trẻ em tại bệnh viện nhi đồng thành phố”, Tạp chí Y học Việt Nam, 534(1b). Google Scholar
[9]
Cai, J., Jiang, D., & Zang, W (2021), Analysis of the Curative Effect and Influencing Factors of Collagen Sponge Combined with Autologous Skin Graft in the Treatment of Deep Burn Patients, Evidence‐Based Complementary and Alternative Medicine, (1), 6963401. Google Scholar
[10]
Đào Văn Hiếu (2024), “Vá da mỏng tự thân điều trị khuyết hổng phần mềm chi dưới do chấn thương tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức”, Tạp chí Y học Dự phòng, 34(6), tr. 121-127. Google Scholar