Bài báo khoa học Tập 67 Số VTT

ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC XỬ TRÍ THAI TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI KIÊN GIANG

Nguyễn Ngọc Quốc Trưởng1,2, Trần Ngọc An1,2, Nguyễn Thị Diễm Thúy1,2
1 Vo Truong Toan University
2 Trường Đại học Võ Trường Toản
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá chiến lược xử trí thai trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang giai đoạn 2022–2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 55 bệnh nhân được chẩn đoán xác định thai trứng bằng giải phẫu bệnh và điều trị tại Khoa Phụ từ 01/2022–12/2024. Dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án, bao gồm phân loại nguy cơ, phương pháp xử trí, số lần hút nạo, sử dụng hóa dự phòng, đặc điểm siêu âm và diễn tiến β-hCG; phân tích bằng SPSS 20.0.

Kết quả: Thai trứng nguy cơ cao chiếm 60%, chủ yếu là thể toàn phần. Chiến lược xử trí chính là hút nạo buồng tử cung kết hợp hóa dự phòng Methotrexate + Acid folinic ở nhóm nguy cơ cao; hút nạo đơn thuần áp dụng cho nhóm nguy cơ thấp. Đa số bệnh nhân được hút nạo 2 lần, tỷ lệ sót trứng trên siêu âm sau hút nạo cao (80%), tập trung chủ yếu ở thai trứng toàn phần, kèm nồng độ β-hCG sau nạo cao hơn rõ rệt so với thể bán phần (p = 0,007). Phác đồ Methotrexate + Acid folinic được sử dụng ở đa số trường hợp nguy cơ cao, dung nạp tốt, ít tác dụng phụ. Phần lớn bệnh nhân có thời gian ra huyết âm đạo ngắn, hồi phục lâm sàng thuận lợi.

Kết luận: Chiến lược xử trí thai trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang dựa trên phân tầng nguy cơ với hút nạo kết hợp hóa dự phòng Methotrexate + Acid folinic cho nhóm nguy cơ cao cho thấy hiệu quả và an toàn. Tuy nhiên, tỷ lệ sót trứng và phải hút nạo lặp lại, đặc biệt ở thể toàn phần, cho thấy cần tối ưu kỹ thuật hút nạo và tăng cường theo dõi β-hCG, siêu âm định kỳ để phát hiện sớm bệnh nguyên bào nuôi tồn tại.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Kim Quyên (2015), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược Cần Thơ. Google Scholar
[2]
Nguyễn Vũ Quốc Huy, Cao Ngọc Thành, Lê Minh Tâm, Trương Quang Vinh (2022), Bệnh nguyên bào nuôi do thai, Trong: Giáo trình Sản Phụ khoa (Sau đại học), Nhà xuất bản Đại học Huế, Tr. 132-154. Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Minh Phương (2019), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Tạp chí Y học Việt Nam. Google Scholar
[4]
Phạm Đình Vinh (2018), Nghiên cứu đặc điểm và kết quả điều trị bệnh nguyên bào nuôi sau thai trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[5]
Heru Pradjatmo et al. (2015), Risk of malignant transformation in complete and partial hydatidiform mole, Indonesian Journal of Obstetrics and Gynecology, 3(1): 14–19. Google Scholar
[6]
Bộ môn Phụ sản – Trường Đại học Y Hà Nội (2022), Giáo trình Sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. Google Scholar
[7]
Phạm Thanh Hoàng (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Từ Dũ, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh. Google Scholar
[8]
Nguyễn Thị Linh Hà (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[9]
Lurain JR. (2010), Gestational trophoblastic disease I: Epidemiology, pathology, clinical presentation and diagnosis, American Journal of Obstetrics and Gynecology, 203(6): 531–539. Google Scholar
[10]
Bagshawe KD. (2012), Methotrexate and folinic acid in prophylactic chemotherapy for molar pregnancy, British Journal of Obstetrics and Gynaecology, 119(2): 121–129. Google Scholar