Bài báo khoa học Tập 67 Số VTT

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN THAI TRỨNG TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI KIÊN GIANG

Nguyễn Văn Tín1,2, Trần Ngọc An1,2, Nguyễn Thị Diễm Thúy1,2
1 Vo Truong Toan University
2 Trường Đại học Võ Trường Toản
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân thai trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 55 bệnh nhân được chẩn đoán xác định thai trứng bằng giải phẫu bệnh và điều trị tại Khoa Sản, Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang từ 01/2022 đến 12/2024. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.

Kết quả: Trong 55 trường hợp, nhóm tuổi 18–39 chiếm 81,8%. Hầu hết bệnh nhân không có tiền sử mang thai bất thường (87,3%). Triệu chứng thường gặp gồm ra huyết âm đạo (54,5%), nghén (52,7%) và tử cung lớn hơn tuổi thai (65,5%). Nồng độ β-hCG trung bình ở thai trứng toàn phần là 240.572,5 mIU/mL, cao hơn nhóm bán phần 103.247,2 mIU/mL (p = 0,043). Hemoglobin ≥10 g/dL ghi nhận ở 65,5%, và cường giáp gặp ở 7,3%. Siêu âm chẩn đoán đúng 78,2% thai trứng (83,7% thai trứng toàn phần và 58,3% thai trứng bán phần); nang hoàng tuyến phát hiện ở 32,7%, chủ yếu <6 cm (61,1%).

Kết luận: Thai trứng chủ yếu xuất hiện ở phụ nữ tuổi sinh sản, đặc biệt thể toàn phần với β-hCG tăng cao. Kết hợp siêu âm và định lượng β-hCG giúp chẩn đoán sớm và theo dõi hiệu quả, góp phần hạn chế nguy cơ tiến triển ác tính.

 

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Kim Quyên và cs. (2015). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Sản Nhi Kiên Giang, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2, 45–51. Google Scholar
[2]
Phạm Thanh Hoàng, Lê Hồng Cẩm (2010). Các yếu tố nguy cơ thai trứng tại Bệnh viện Từ Dũ, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 14(1), 226–230. Google Scholar
[3]
Bộ môn Phụ sản – Trường Đại học Y Hà Nội (2022). Bệnh nguyên bào nuôi, NXB Y học. Google Scholar
[4]
Sita-Lumsden A. et al. (2020). Treatment outcomes for 618 women with gestational trophoblastic disease, British Journal of Cancer, 107(11), 1810–1814. Google Scholar
[5]
Dan K. Kaye et al. (2003). Hydatidiform mole in Uganda: clinical presentation and management, African Health Sciences, 3(2), 89–94. Google Scholar
[6]
Igwegbe AO et al. (2009). Hydatidiform mole: a review of 40 cases at Nnewi, Nigeria, Nigerian Journal of Clinical Practice, 12(4), 407–411. Google Scholar
[7]
Ben Temime Riadh et al. (2015). Hydatidiform mole: clinical and epidemiological study at the Maternity Center of Tunisia, Tunis Med, 93(7), 467–471. Google Scholar
[8]
Phạm Đình Vinh (2013). Nghiên cứu đặc điểm bệnh nguyên bào nuôi tại Bệnh viện Từ Dũ giai đoạn 2005–2010, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 17(3), 214–221. Google Scholar
[9]
Nguyễn Thị Linh Hà (2014). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thai trứng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[10]
Nguyễn Thị Minh Phương (2019). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị thai trứng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[11]
Heru Pradjatmo et al. (2017). Correlation between uterine size and malignancy risk in molar pregnancy, Asian Pacific Journal of Cancer Prevention, 18(6), 1527–1532. Google Scholar
[12]
Walkington L. et al. (2011). Hyperthyroidism and hydatidiform mole: incidence, clinical features and management, Clinical Endocrinology, 74(6), 733–738. Google Scholar
[13]
Phạm Thị Nga (2016). Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán bệnh thai trứng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Tạp chí Y học Việt Nam, 443(2), 52–57. Google Scholar