Bài báo khoa học Tập 67 Số VTT

ĐẶC ĐIỂM XỬ TRÍ VÀ KẾT CỤC SƠ SINH Ở SẢN PHỤ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN SUY THAI TẠI KHOA SẢN, BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH HẬU GIANG GIAI ĐOẠN 2020–2024

Lê Trung Kiên1,2, Huỳnh Thanh Phong1,2
1 Vo Truong Toan University
2 Trường Đại học Võ Trường Toản
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm xử trí và đánh giá kết cục sơ sinh ở các trường hợp suy thai cấp, đồng thời khảo sát các yếu tố liên quan đến điểm Apgar tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2020–2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả có phân tích trên 78 sản phụ được chẩn đoán suy thai cấp. Các thông tin về đặc điểm mẹ–thai, biện pháp xử trí và kết cục sơ sinh được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 20.0, sử dụng thống kê mô tả và Fisher’s exact test; p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.

Kết quả: 100% sản phụ được nằm nghiêng trái và thở oxy; 26,9% được truyền dịch. Mổ lấy thai chiếm 98,7% và 1,3% sinh forceps. Tỷ lệ Apgar <7 tại 1 phút là 6,4%, tất cả trẻ đều đạt ≥7 ở phút thứ 5. Đa số trẻ ổn định sau sinh (98,7%), 1,3% nhập NICU và không ghi nhận tử vong. Trong các yếu tố khảo sát, chỉ bất thường dây rốn có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với điểm Apgar 1 phút (p = 0,02, Fisher’s exact test). Tuy nhiên, số ca Apgar thấp rất ít nên kết quả chỉ mang tính gợi ý.

Kết luận: Phát hiện sớm và xử trí suy thai cấp theo đúng phác đồ, đặc biệt là quyết định mổ lấy thai kịp thời, góp phần đạt được kết cục sơ sinh thuận lợi trong nghiên cứu này. Bất thường dây rốn có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với điểm Apgar 1 phút, tuy nhiên số trường hợp Apgar thấp ít nên kết quả chỉ mang tính gợi ý. Cần thực hiện thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá chính xác hơn vai trò của yếu tố này.

Tài liệu tham khảo
[1]
ACOG (2022), Intrapartum Fetal Heart Rate Monitoring, American College of Obstetricians and Gynecologists, Washington DC. Google Scholar
[2]
ACOG Practice Bulletin No.229 (2021). Fetal Heart Rate Monitoring: Interpretation and Management. American College of Obstetricians and Gynecologists. Google Scholar
[3]
WHO (2020). Intrapartum Care for a Positive Childbirth Experience. World Health Organization. Google Scholar
[4]
Low JA, et al. (2018). Fetal Asphyxia and Neonatal Outcomes: A Review of Clinical Management. British Journal of Obstetrics and Gynaecology, 125(6): 750–758. Google Scholar
[5]
Raghuraman N, et al. (2019). Oxygen Supplementation During Labor: A Review of Evidence and Guidelines. Obstetrics and Gynecology Clinics of North America, 46(2): 331–340. Google Scholar
[6]
Trần Thị Mỹ Linh (2021). Đánh giá kết quả điều trị suy thai tại Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ giai đoạn 2018–2020. Tạp chí Y học Cần Thơ, 34(2): 41–46. Google Scholar
[7]
Nguyễn Minh Quang (2020). Các yếu tố tiên lượng ngạt sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 24(5): 151–158. Google Scholar
[8]
Hammad M, et al. (2021). Management and Outcomes of Fetal Distress in Egypt: A Clinical Study. Egyptian Journal of Obstetrics and Gynecology, 47(1): 22–28. Google Scholar
[9]
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2021), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết cục thai kỳ ở sản phụ có suy thai tại Bệnh viện Từ Dũ, Tạp chí Y học TP.HCM. 2021;25(4):45–52.11 Google Scholar
[10]
Nguyễn Thị Minh Phương,Trần Thị Hạnh (2020), Đánh giá hiệu quả xử trí suy thai cấp trong chuyển dạ tại BVPSTƯ, Tạp chí Y học thực hành, 2020;10(1154):45-50.10 Google Scholar
[11]
Nguyễn Văn Khoa (2020). Đánh giá kết cục sơ sinh ở các trường hợp suy thai tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Tạp chí Y học Việt Nam, 489(2): 97–103. Google Scholar
[12]
Lê Thị Thanh Bình (2019). Yếu tố nguy cơ và kết quả xử trí suy thai tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y học Việt Nam, 486(3): 212–218. Google Scholar